Tag: tư liệu

Thông tin cần biết về Trung Ngoại Châu Gia

Thông tin cần biết về Trung Ngoại Châu Gia

Những vị tiền bối sáng tạo ra Thiếu Lâm Châu Gia là 5 anh em ruột nhà họ Châu ở Quảng Đông. Từ trái sang: Châu Điền (Jow Tin), Châu Bưu (Jow Biu), Châu Long (Jow Lung), Châu Hiệp (Jow Hip) và Châu Hải (Jow Hoy)

Thông tin cần biết về Trung Ngoại Châu Gia

Thông tin cần biết về Trung Ngoại Châu Gia

Trung Ngoại Châu Gia hay Châu gia kung fu, là một võ phái miền nam Trung Hoa do Châu Long sáng tạo vào đầu thế kỷ 20 tại Quảng Đông.

Châu Long là một môn đồ Hồng Gia Quyền, sau đó học tập thêm Thái Gia Quyền từ Thái Giáo và Bắc Thiếu Lâm.

Châu Gia Quyền và Thiếu Lâm Châu Gia là tên gọi khác của Trung Ngoại Châu Gia trong họ Nam Quyền Quảng Đông.

Những vị tiền bối sáng tạo ra Thiếu Lâm Châu Gia là 5 anh em ruột nhà họ Châu ở Quảng Đông. Từ trái sang: Châu Điền (Jow Tin), Châu Bưu (Jow Biu), Châu Long (Jow Lung), Châu Hiệp (Jow Hip) và Châu Hải (Jow Hoy)

Nguồn gốc và sự phát triển

Trung Ngoại Châu Gia là một bộ môn quyền thuật thuộc võ phái Thiếu Lâm (Trung Quốc). Bộ môn quyền thuật này được sáng tạo do Châu Long.

Tiểu sử Châu Long

Châu Long (Jow Lung) – sinh ngày 17 tháng 3 âm lịch (năm 1891) tại ngôi làng Tạ Hổ ở tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Cha của Châu Long là Châu Phương Hải (Jow Fong Hoy) và mẹ ông ta là cô con gái rượu của bà Lý (Li). Vào lúc bộ môn này được khai sinh, phong thái đặc trưng của bộ môn quyền thuật này được coi như là một phong cách pha trộn giữa “đầu Hồng Gia Quyền, đuôi Thái Gia Quyền” – nghĩa là khi nhập môn thì học kỹ pháp của Hồng Gia, đến trình độ cao hơn thì học kỹ pháp của Thái Gia – và kết hợp các loại quyền pháp của Hổ Hình (Tiger Form) Quyền và Báo Hình Quyền (Leopard Form). Người ta gọi môn quyền này như vậy bởi vì các chiêu thức thiết yếu đã kết hợp các cơ bắp và sự chuyển động mạnh mẽ của Hồng Quyền với các bộ tấn nhanh nhẹn và cước pháp (đòn chân) của Thái Gia Quyền tạo cho bộ môn quyền này trở thành một môn võ tự vệ rất hiệu quả trên cơ sở chuyên phối hợp tấn công và phòng thủ cùng một lúc.

Các dòng tộc họ Châu đa phần là những người nông dân bản cư tại làng Tạ Hổ (Sa Fu). Châu Long (Jow Lung) có một người chú tên là Châu Hồng (Jow Hung), là võ sư chuyên dạy quyền thuật Thiếu Lâm Hồng Gia trong nhiều năm trước đó, và được giới võ thuật ngầm thừa nhận như là người giỏi võ nhất tại huyện Xuân Huy (Sun Wui). Châu Long cùng các em trai của mình là Châu Hiệp (Jow Hip), Châu Bưu (Jow Bill), Châu Hải (Jow Hoy) và Châu Điền (Jow Tin) đã tập luyện Hồng Gia Quyền với chú ruột của họ. Châu Long không bao giờ thốt lên một tiếng nào phàn nàn về các chương trình khổ luyện và chẳng bao lâu đã chứng tỏ là môn đồ xuất sắc nhất. Châu Hồng đã xem Châu Long là truyền nhân có thể kế tục những giáo pháp Thiếu Lâm Quyền của mình. Một ngày nọ, Châu Hồng đã gọi Châu Long đến và nói rằng ông ta không còn thọ bao lâu nữa khi mà chứng bệnh kinh niên của ông ta đã quay trở lại. Trong khi vẫn còn thời gian, ông ta đã dạy cho Châu Long những chiêu thức còn lại và những chiêu thức đấu pháp của Bát Quái Côn (Pa Kua : Pa means Eight, Kua means Changes, Staff means Pole). Sau đó một tháng, Châu Hồng qua đời.

Sự ra đi của chú ruột không có nghĩa là Châu Long đã chấm dứt con đường học tập quyền thuật. Châu Long đã đi đến huyện Tiểu Hinh (Siu Hing) nơi gặp Thái Giáo (Choy Kau) thuộc dòng Thái Gia Quyền được sáng tạo. Từ Thái Giáo, Châu Long lại tập luyện thêm Thái Gia Quyền. Châu Long cảm thấy rằng ông ta có lẽ đã sở đắc được tinh túy của hai dòng quyền thuật mà ông ta đã học được cho đến lúc này. Ông ta cảm thấy thích sự dũng mãnh cương ngạnh của Hồng Quyền và các bộ tấn nhanh nhẹn của Thái Gia Quyền. Cuối cùng ông ta đã kết hợp cả hai hệ thống quyền thuật này với nhau.

Khi Châu Long 19 tuổi, do hoàn cảnh gia đình khó khăn, ông ta đã rời quê nhà đi đến Kuala Lumpur (Mã Lai) tìm kế sinh nhai. Trong thời gian ở đây, ông ta đã dính dấp vào một trận ẩu đả và đã đả thương nặng một tên cướp xã hội đen. Mặc dù ông ta thật ra không việc gì phải bỏ trốn, Châu Long đã nghĩ rằng ông ta có lý do để ẩn trốn. Trong nhiều ngày ông ta sống nhờ vào các loại trái cây dại và dâu tây dại và sắp sửa bị ngất sỉu thì ông ta đã đến được một tu viện và xin được cứu giúp. Vị tu viện trưởng rất thông cảm với thử thách mà Châu Long vừa trải qua và nói rằng ông ta rất hoan nghênh chào đón Châu Long ở lại nếu ông ta có thể chịu được cuộc sống giản dị, thanh đạm và lối sống ở tu viện. Sau nhiều tháng quan sát kỹ lưỡng, vị tu viện trưởng không còn gì để nghi ngờ về tính cách của Châu Long và đã bắt đầu dạy Châu Long quyền thuật Bắc Thiếu Lâm. Sự hiểu lầm của Châu Long liên quan đến cái chết của tên cướp xã hội đen đã dẫn dắt ông ta đến với một cơ hội gặp gỡ trực tiếp một bậc thầy Thiếu Lâm Quyền. Được vị tu viện trưởng khuyến khích, Châu Long đã kết hợp tất cả các hệ quyền thuật mà mình đã học được khi còn ở quê nhà thành một môn quyền thuật thống nhất và đã ở lại tu viện hơn ba năm sau mới rời khỏi nơi này.

Vào năm 1915 Tướng Lý Phục Lâm ở Quảng Đông đang cần một tổng giáo đầu cho quân đội. Lý đã phát lệnh mời công khai bất kỳ người nào xin ứng cử vào vị trí này. Trong hơn 100 đương sự được nhận vào. Tướng Lý đã chia 10 người thành mười nhóm và tổ chức một cuộc thi đấu vòng loại. Châu Long đã đánh bại tất cả các đối thủ và đã được chỉ định vào vị trí này. Châu Long đã tiến cử các em của mình là Châu Hiệp, Châu Bưu, Châu Hải và Châu Điền trợ giáo cho những người lính và giúp các em của mình hoàn bị các kỹ pháp mới do ông ta vừa sáng tạo ra khi còn ở Mã Lai. Những người em của ông đã quyết định gọi hệ thống kỹ pháp này là Quyền thuật Châu Gia. Do tính hiệu quả và khả năng ứng chiến tốt của họ, các em của ông ta đã trở nên nổi tiếng là “Ngũ Hổ Châu Gia”.

Sau khi Châu Long qua đời, gia đình ông đã họp mặt và bình chọn Châu Bưu đảm trách thủ lĩnh của hệ phái này. Đại Sư Phụ Châu Bưu đã từ nhiệm vị trí của ông trong quân đội và bắt đầu nâng cao hệ thống quyền thuật Châu Gia. Trong vòng một năm ông ta đã thiết lập ra 14 võ đường Thiếu Lâm Châu Gia khắp Trung Hoa và trong vòng vài năm sau con số võ đường Thiếu Lâm Châu Gia đã lên đến hơn 80 võ đường. Vào năm 1936, võ đường Thiếu Lâm Châu Gia đã được thành lập đầu tiên ở tại khu Cửu Long (Kowloon), Hồng Kông. Võ đường Thiếu Lâm Châu Gia ở Hồng Kông đã sản sinh ra nhiều bậc thầy danh tiếng của bộ môn quyền thuật này.

Sự phổ biến Trung Ngoại Châu Gia

Ngày nay, Thiếu Lâm Châu Gia rất phổ biến ở Singapore, Malaysia, Anh Quốc, Úc, Đức và nhiều nơi khác trên thế giới, và môn quyền này đôi khi được gọi dưới danh nghĩa là Trung Ngoại Châu Gia. Ở Hồng Kông, vẫn có một số lượng lớn cư dân học tập bộ môn quyền này. Đôi khi, các võ đường Châu Gia được mời tham gia các cuộc tranh tài võ thuật như là một phần thi đấu quyền thuật vào các ngày chủ nhật ở công viên Cửu Long.

Khi bộ môn này mở rộng ra toàn cầu, có thể các môn sinh Thiếu Lâm Châu Gia tìm được điều gì đó trong môn võ tuyệt diệu này như là sự phát triển chung, đồng thời tinh lọc lại và tô bóng cho các chiêu thức của bộ môn quyền này để đẩy nó lên một tầm cao mới vĩnh hằng.

Châu Gia không phải là môn quyền thuật mà nhiều người đã từng nghe qua rằng nó có vẫn có nhiều môn sinh đáng kể. Trong phạm vi các lưu phái võ thuật, nó rất nổi tiếng và được nể trọng. Hiện nay có nhiều chi phái của 3 đại sư phụ (Châu Bưu, Châu Điền, và Châu Hiệp) có rất nhiều môn đồ ở Hồng Kông.

Nhiều võ đường Châu Gia vẫn duy trì theo truyền thống, chỉ dạy võ thuật trong võ đường, mà thường tọa lạc bên trong một tòa nhà chung cư. Nhiều võ đường ở tuốt trên lầu thượng vì vậy họ có thể chiếm lĩnh toàn bộ gian mái của tòa nhà. Tuy nhiên, có nhiều sự thay đổi được thực hiện thích hợp với thời đại mới. Châu Gia được truyền dạy trong các trường Đại Học ở Hồng Kông. Trường Đại Học Hồng Kông cũng có một câu lạc bộ Thiếu Lâm Châu Gia. Trong khi trường Đại Học Trung Hoa ở Hồng Kông cũng có nhiều môn sinh, họ thường dạy riêng lẻ với nhau.

Mỗi năm có nhiều buổi lễ chúc tụng sinh nhật của 5 vị Đại sư phụ. “Châu Long Đản” – ngày sinh của Đại Sư Phụ Châu Long là ngày lễ lớn nhất trong số những ngày này mà lúc đó nhiều võ đường cùng giao lưu với nhau tại một nhà hàng để trình diễn múa Lân Sư và các màn công diễn võ thuật, sau đó là một buổi tiệc hoành tráng diễn ra.

Tiểu phục hổ quyền

Tiểu phục hổ quyền (Siu Fuk Fu Kuen) là bài quyền cơ bản đầu tiên của Thiếu Lâm Châu Gia truyền dạy những chiêu thức cơ bản và nền tảng để nắm vững hệ thống quyền pháp sau này. Hầu hết tất cả các thế tấn đều xuất hiện trong bài quyền này. Phần lớn các chiêu thức đặc trưng cũng ở trong bài quyền này.

Tứ bình quyền

Tứ bình quyền (Sei Ping Kuen) là một bài quyền căn bản khác nữa, nó ngắn hơn bài Tiểu Phục Hổ Quyền và đôi khi được truyền dạy trước bài Tiểu phục hổ quyền.

La hán quyền

La Hán quyền là đặc trưng huyền thoại nhất trong Phật giáo Trung Hoa, và nhiều bộ môn võ thuật cũng có một bài quyền dành cho vị Phật Tại Thế này. Bài quyền này thường được đặc trưng hóa bởi các đường quyền (chuyển động) mạnh mẽ. Bài La Hán Quyền cũng là một bài quyền nhấn mạnh việc sử dụng lối đánh “Lôi quyền ào ạt” , nó cũng có nhiều thế quyền “La Hán Tẩy Diện” (La Hán rửa mặt) gồm 3 chiêu thức (Cup Chui, Com Chui, và Jon Chui) phóng quyền ra đòn liên tiếp nhau. Bài quyền này do Châu Bưu sáng tạo sau khi ông ta đến Hồng Kông.

Ưng trảo quyền

Ưng trảo quyền là bài quyền dạy cho các môn sinh di chuyển nhanh khi tấn công đối phương, bài quyền này được đặc trưng bởi chuyển động liên tiếp của 3 móng vuốt chim ưng và Ưng trảo thủ pháp (Claw Movement) thi triển trên mặt đất sau khi tung đòn đá bay.

Hoa quyền

Là một bài quyền hỗn chiến, người ta cho rằng bài này được sáng tạo bởi Châu Bưu trong khi ngẫu hứng thi triển quyền pháp tại một buổi tiệc. Vì vậy Khởi Thức của bài quyền này trông giống những đường quyền của các bài quyền khác.

Vạn tự quyền

Là bài quyền mà được gọi một cách “bóng bẩy” là “Hồng Đầu Thái Vỹ” (phần đầu bài là kỹ pháp của Thiếu Lâm Hồng Gia sử dụng thủ pháp – kiều pháp, phần cuối bài là kỹ pháp của Thiếu Lâm Thái Gia sử dụng cước pháp). Bài quyền này có Khởi Thức bằng các bộ tấn di chuyển chậm hơn so với nhiều đường quyền của Hồng Gia, sau đó bài quyền này tăng tiến dần tốc độ do thay đổi các thế tấn di chuyển rất nhanh. Đây là một bài quyền dài và luyện khí công (Chi Kung) kèm theo sức chịu đựng dẻo dai. Bài quyền này còn có kỹ thuật của Châu Bưu sáng tạo (như bài La Hán Quyền) gồm 3 đường quyền phóng liên tiếp nhau khi diễn tập.

Quốc tự quyền

Là bài quyền cao cấp dài và tích hợp hầu hết các chiêu thức của Thiếu Lâm Châu Gia. Vào đoạn cuối, bài quyền này có sử dụng cước pháp (đòn chân) của Bắc Thiếu Lâm.

Đại phục hổ quyền

Là bài quyền cao cấp có nguồn gốc từ (bài Cung tự phục hổ quyền) Thiếu Lâm Hồng Gia. Đây là bài quyền hay thực hành và luyện nhiều thế tấn cho tốt. Thường có nhiều đường quyền thực hiện trong cùng một thế tấn. Phần thức nhất của bài quyền (là phần dài hơn cả trong bài quyền này) luyện khí công và cũng luyện luôn cả Kiều Pháp (Kìu Sẩu). Phần thứ hai của bài quyền ngắn hơn gồm các đường quyền nhanh hơn mà thêm một lần nữa bài này cũng nhấn mạnh đến kỹ pháp Hồng Đầu Thái Vỹ (Hung tao, Choy mei).

Hổ báo quyền

Là bài quyền cuối cùng thực tập. Đây là bài quyền cao cấp huấn luyện nhiều kỹ thuật phối hợp. Bài quyền này cũng có những chiêu thức căn bản gần giống như kỹ thuật thực hiện “đòn đầu gối trước” ở tư thế đối diện đối thủ. Những bài quyền trên chưa phải là tất cả các bài quyền của Châu Gia, còn có nhiều kỹ thuật khác với các dòng kỹ pháp khác được tích hợp vào hệ thống quyền pháp của Châu Gia. Nhưng hầu hết các chiêu thức có cùng một phong cách kỹ pháp làm cho người ngoài dễ nhận ra đây là kỹ pháp Châu Gia. Hơn nữa, cho dù dòng quyền pháp nào xuất xứ từ đâu, đoạn dạo quyền bái tổ của Châu Gia luôn được thực hiện trước khi bắt đầu vào bài quyền làm nổi lên rằng đây chính là một môn đồ của Châu Gia.

Binh khí

Châu Gia có nhiều chủng loại binh khí bao gồm kiếm, đao, nguyệt đao, các loại roi, côn (trường côn, đoản côn), giáo (thương, kích, xà mâu), các loại dao ngắn, hổ đinh ba, … Châu Gia có nhiều loại binh khí thi thoảng pha trộn giữa các loại. Nhưng hầu hết các loại binh khí đều đi đến thống nhất rằng kỹ pháp Song Đao là đặc trưng nhất của Châu Gia, và biểu tượng của Châu Gia thông thường nhất là biểu hình hai thanh song đao bên trên chữ Châu được viết bên trong một bông hoa mai.

Múa Lân Sư

Châu Gia cũng rất nổi tiếng với màn múa Lân Sư. Nhiều võ đường Châu Gia tham gia hay được mời tham gia vào các nghi lễ và thường được khen thưởng vì màn trình diễn xuất sắc với kỹ năng múa Lân Sư này.

Cấp độ huấn luyện

Sơ đẳng

Học các thế tấn, bộ pháp (di chuyển tấn pháp), các chiêu thức thủ pháp tấn công (đòn tay), các loại thủ pháp đỡ gạt, và cước pháp (đòn chân); các chiêu thức tự vệ và các nguyên lý quyền pháp và đấu pháp; lịch sử võ thuật; lịch sử Thiếu Lâm Châu Gia; cách chào của Thiếu Lâm Châu Gia. Sau đây là các bài quyền căn bản:

· Tiểu phục hổ quyền

· Lưỡng đầu côn

· Tứ bình quyền

· Vạn tự quyền

Các bài quyền có thể được thay thế nhau, không yêu cầu phải học theo trình tự.

Trung đẳng

Học chiến đấu căn bản, các đòn thế gài nhập và câu khóa đối phương khi nhập nội cận chiến; lý thuyết quyền thuật Trung Hoa; các hệ thống quyền thuật và quyền pháp; lý thuyết Khí Công và Thái Cực Khí Công và lý thuyết về Thập Hình (Long, Xà, Hổ, Báo, Hạc, Tượng, Hầu, Sư, Mã, Bưu) của quyền pháp Châu Gia. Sau đây là các bài quyền Trung Đẳng:

· Hoa quyền

· Hổ vĩ đại đao

· Thương Thuật

· Tiểu hồng quyền

· Mai hoa song đao

· Mộc thung quyền (đánh với Mộc nhân)

· Song đao ngắn

· Hổ đinh ba (bài 1)

Cao cấp

Học các chiêu thức và các chiến thuật đấu pháp cao cấp. Các bài quyền cao cấp gồm:

· Tiểu ưng trảo quyền

· Cào cỏ chín răng

· Đại phục hổ quyền

· Ghế ngựa

· Vạn tự quyền

· Tam tiết côn (côn ba khúc)

· Trung Hoa tự quyền

· Song tô (còn gọi là Bát trảm đao)

· Đao 9 khoen

· Song cương tiên 3 đốt

· Lưỡi hái

Huấn luyện võ sư

Các bài quyền dành cho các võ sư:

· Lục giác quyền

· Thanh long đại đao (đao dài)

· Ngũ hình quyền (long, xà, hổ, báo, hạc)

· Song đoản kích

· Hổ báo quyền

· La hán quyền

· Hổ đinh ba (bài 2)

· Bát quái côn

· Bát quái trung bình côn

· Đơn đầu côn

Huấn luyện song đấu

Những bài song đấu luyện:

· Vạn tự quyền song đấu

· Tiểu phục hổ quyền song đấu

· Côn đấu côn

· Thương đấu đại đao song luyện

· Đại đao đấu thương

· Đinh ba đấu với khiên và đại đao

· Đơn đao và nạng đấu với thương

Thông tin thêm

Ở Việt Nam, tại quận 5 – Sài Gòn nơi mà cộng đồng người Hoa sinh sống, có võ đường của Thiếu Lâm Châu Gia trên đường Hàm Tử (quận 5 – Sài Gòn) với tên đoàn lân Nhân Nghĩa Đường được sáng lập ra bởi cố võ sư Lưu Hào Lương (qua đời năm 1971 tại quận 5) gốc người Quảng Đông di cư sang Việt Nam từ những năm đầu của thập kỷ 1920. Con trai của ông là võ sư Lưu Kiếm Xương hiện nay đang quản nhiệm võ đường này . Năm 2007 võ sư Lưu Kiếm Xương tuy đã 62 tuổi nhưng trông rất tráng kiện và đội lân Nhân Nghĩa Đường của ông đã từng đại diện cho Việt Nam đoạt giải vô địch Lân Sư Rồng Châu Á tại Hồng Kông thắng luôn cả đội lân của Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông.

Theo maxreading.com

Thông tin cần biết về Pháo quyền

Thông tin cần biết về Pháo quyền

Lưu phái Vu (Yu branch) còn giữ các bài quyền nguyên gốc, trong khi lưu phái Tống (Song branch) kết hợp với 12 trường phái khác bên ngoài và sáng tạo thêm các đường quyền (sáo lộ) mới.

Thông tin cần biết về Pháo quyền

Thông tin cần biết về Pháo quyền

Pháo quyền, là cách gọi tắt, tên gọi đầy đủ là Tam Hoàng Pháo Chùy là một bộ môn quyền thuật thuộc miền Bắc Trung Hoa được sáng tác rất xa xưa thời Tam hoàng Ngũ đế, trước cả thời nhà Hạ và nhà Thương.

Nguồn gốc và danh xưng

Do lưu thuyết rằng Pháo quyền xuất hiện vào thời Tam hoàng Ngũ đế trên mà Tam hoàng Pháo quyền còn có tên là Tam Tinh Pháo quyền tượng trưng cho 3 vị thần và cũng là Tam hoàng trong sự tích Tam hoàng Ngũ đế là Phục Hi (Fuxi), Thần Nông (Shen Nong), và Thủy thần Cung Công (Gong Gong) mà sau này được thay bằng bà Nữ Oa (Nüwa) hay Toại Nhân (Shuiren)

Sau đó đến thời nhà Tùy và nhà Đường, buổi bình minh của chùa Thiếu Lâm Tung Sơn Hà Nam, Pháo quyền được tích hợp vào Thiếu Lâm quyền và trở thành một trong những bài tập thiết yếu của các sư tăng trong các tu viện của Thiếu Lâm. Sự phổ truyền bộ môn này vào chùa là do một võ sư tại núi Nga Mi.

Sau này chùa Thiếu Lâm Tung Sơn gọi bài này là Tam lộ Pháo quyền, có tài liệu lại gọi là bài Pháo trùy và cho biết bài ngày và bài Pháo trùy của Thái cực quyền nguyên thủy ở làng Trần gia câu tỉnh Hà Nam (Trung Quốc) là một, tên thiệu các chiêu thức quyền thuật cũng là một, do vậy giữa Thái cực quyền và Thiếu Lâm quyền Tung Sơn Hà Nam có một mối liên hệ gần nhau và có cùng một nguồn gốc có ảnh hưởng qua lại với nhau bắt đầu từ viên đại tướng vào giữa thời nhà Minh là Thích Kế Quang

Thuyết khác lại nói rằng khoảng cuối thời nhà Minh đầu thời nhà Thanh vào đầu thế kỷ 17 (năm 1600) Pháo quyền được sáng tác . Sư Phổ Chiếu (Pu Zhao) của chùa Thiếu Lâm Tung Sơn Hà Nam, trong khi đi lang thang trong núi Nga Mi ở Tứ Xuyên đã gặp một đạo sĩ thuộc phái võ Nga Mi truyền dạy cho môn quyền thuật này, sau đó đã phát triển loại quyền thuật này và truyền thụ lại cho Cam Phổ Trì (Gan Genchi) và Kiều Tam Tú (Qiao San Xiu), Kiều Tam Tú truyền lại cho con là Kiều Hạc Linh (Qiao He Ling). Khi Kiều Hạc Linh đi chơi núi Nga Mi gặp Vu Liên Đăng (Yu Lian Deng) người Sơn Đông và Tống Mai Luân (Song Mai Lung ) bàn về đạo, luận về võ rất vừa ý nên thu làm học trò.

Vu, Tống sau khi học nghệ thành tài trở về quê hương, ra sức phát triển và truyền bá sâu rộng trong dân gian hình thành Vu, Tống là hai lưu phái lớn, do vậy xuất hiện thuyết “quyền Vu, tay Tống” (nguyên văn: Vu quyền, Tống thủ) làm cơ sở cho việc phát triển vững chắc môn Pháo trùy sau này.

Lưu phái Vu (Yu branch) còn giữ các bài quyền nguyên gốc, trong khi lưu phái Tống (Song branch) kết hợp với 12 trường phái khác bên ngoài và sáng tạo thêm các đường quyền (sáo lộ) mới.

Hiện nay Pháo quyền rất thịnh hành và phổ biến rộng rãi trong dân gian khắp các vùng tỉnh miền Bắc Trung Hoa như Bắc Kinh, Sơn Đông, Hà Bắc, Liêu Ninh, Hà Nam và Cát Lâm.

Đặc điểm kỹ pháp

Đây là loại quyền pháp nổi tiếng là có lối đấm đá ào ạt và nhanh trông giống như đại bác khai hỏa phóng ra ào ạt những viên đạn cối lửa. Phong cách loại quyền này lấy sự nhu nhuyễn và cương mãnh làm cốt lõi trong các bài tập ứng chiến. Trong khi luyện tập yêu cầu người luyện phải kết hợp công thủ hài hòa trên cơ sở của hai năng lực âm dương. Chiến thuật ứng chiến thường bao gồm các thế tấn công và phòng thủ liên tiếp nhau khi tiến khi thoái.

Trong bài quyền thường hay dùng thập tự thủ quyền (hai tay quyền giao chéo nhau phía trước ngực) và các thế tấn ngồi xổm bước vòng quanh. Hai tay khi phóng quyền thường dùng các chuyển động cong trông như cánh cung co lại bật dây cung phóng tên.

Đặc điểm kỹ pháp của bài quyền ít, giá thế gấp gáp, kết cấu đơn giản chọn lọc, động tác rõ nhanh, quyền pháp dày đặc, phát kình cương mãnh.

Bài quyền chủ yếu có 12 bài, hiện chỉ còn có 7 bài. Quyền pháp cơ bản có 24 pháo tức pháo mở cửa (khai môn pháp), bổ núi (phách sơn), liên hoàn pháo, chuyển góc (chuyển giác) chữ thập, não hậu, trì đỗ, xung thiên, liêu âm khều âm chọc đất (trát địa), oa tâm pháp và thất tinh pháo.

Pháo quyền rất được người Trung Hoa ưa thích vì tính đơn giản và hiệu quả thực chiến cao.

Sau này tại làng Trần gia câu thuộc tỉnh Hà Nam xuất hiện môn Thái cực quyền là nguồn gốc các dòng phái Thái cực quyền ngày nay cũng có bài Pháo trùy tựa hệt như Pháo quyền của Thiếu Lâm Tung Sơn Hà Nam.

Theo maxreading.com

Thông tin cần biết về môn võ NINJITSU

Thông tin cần biết về môn võ NINJITSU

Đến đời Kamakura, vào năm 1192, Ninjitsu bắt đầu phát triển mạnh và bành trướng rộng rãi suốt 400 năm tiếp theo. Vào thời gian này, có đến 25 võ đường được thiết lập để truyền dạy Ninjitsu, tập trung nhất ở hai tỉnh Iga và Koga

Thông tin cần biết về môn võ NINJITSU

Thông tin cần biết về môn võ NINJITSU

Mặc dù đất dụng võ của Ninjitsu(còn gọi là Ninjutsu) là Nhật Bản, nhưng thực ra môn võ này có nguồn gốc sâu xa từ Trung Quốc. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng Ninjitsu xuất phát từ Tôn tử hay Tôn Võ Tử, người đời Xuân Thu, sinh ở phía đông nũi La Phù, thao lược tinh thông. Ông đã soạn ra một bộ binh pháp gồm 13 thiên: Thuỷ kế, Tác chiến, Mưu công, Quân hình, Binh thế, Hư thiệt, Quân tranh, Cửu biến, Hành quân, Địa hình, Tựu địa, Hoả công, Dụng gián. Bộ sách trình bày những thuật dùng binh, đồng thời cũng là một áng văn chương bình dị, ý tứ dồi dào, nghĩa lý sâu sắc. Tôn tử từng làm thượng tướng quân cho Ngô Hạp Lư, giúp Ngô đánh Sở, sau khi yên việc chiến trường, ông đã trở về điền viên lấy chữ thanh nhàn làm thú. Môn Ninjitsu sử dụng hầu hết thuật binh pháp của Tôn Tử, tập trung nhất là thiên “dụng gián”, tức thiên bàn về công tác sử dụng gián điệp trong chiến tranh. Nhưng chiến thuật về gián điệp của Tôn tử đã du nhập vào Nhật bản dướit thời lãnh chúa Shotoku(593-622) qua việc lãnh chúa này lần đầu tiên sử dụng các thuộc hạ của mình mặc thường phục để do thám địch tình phục vụ cho cuộc chiến tranh, từ đó Ninjitsu đã hình thành và phát triển tại Nhật Bản.

Tuy nhiên, mãi đến 500 năm sau, Ninjitsu mới bắt đầu lớn mạnh. Những nhà sư ở núi Yamaloushi đã làm rạng danh Ninjitsu vào thế kỷ thứ 12 qua việc sử dụng những kỹ thuật của môn phái này chống lại sự đàn áp của nhà vua trong những trận chiến đấu cá nhân và đồng đội. Đặc biệt, vào cuối thời vua Heian, khoảng năm 1185, kinh đô Kyoto bị rối tung lên do sự xâm nhập của các nhà sư ở núi Yamalousi sử dụng Ninjitsu trừng trị bọn ác ôn, tham quan ô lại. Cũng vào thời điểm này, nhiều võ đường đã được thành lập để truyền dạy Ninjitsu rộng rãi trong nhân dân. Trong đó, nổi bật nhất là võ đường của Yoshitsune-một Ninja khét tiếng đương thời.

Đến đời Kamakura, vào năm 1192, Ninjitsu bắt đầu phát triển mạnh và bành trướng rộng rãi suốt 400 năm tiếp theo. Vào thời gian này, có đến 25 võ đường được thiết lập để truyền dạy Ninjitsu, tập trung nhất ở hai tỉnh Iga và Koga. Một trong những thủ lãnh Ninja nổi tiếng của thế kỷ 16 là Sandayu Monochi từng chỉ huy một ngàn Ninja chống lại gần năm vạn quân của tướng Oda Nobunaga. Một thủ lãnh Ninja khác là Hanzo Hatori, sống vào thế kỷ 17, từng đắc lực giúp tướng quân Ieasu Tokugawa chiến thắng vẻ vảng bốn vạn quân phiến loạn ở Shimabara Kyushu vào năm 1637. Sau đó, nhờ sự giúp đỡ của các Ninja, dòng họ tướng quân Ieyasu Tokugawa đã trị vì đất nước của Thái dương thần nữ đến cuối thế kỷ 19. Sang thế kỷ 20, trong Đệ nhị thế chiến, cơ quan mật vụ Nhật bản đã phải cần đến sự hoạt động của các cao thủ Ninjutsu để góp phần chấm dứt cuộc phong toả của quân đội Mỹ do tướng Douglas chỉ huy đang chiếm đóng ở Nhật lúc bấy giờ. Sau thế chiến thứ hai, chính phủ Nhật đã đặt các Ninja ra ngoài vòng pháp luật. Tuy vậy, Ninjitsu vẫn được ngưỡng mộ. Vào tháng 5-1980, để đối phó với bọn khủng bố đánh chiếm sứ quán Iran tại Anh, người ta đã phải nhờ tới một chuyên viên Ninjitsu tổ chức giúp một cuộc tấn công cấp kỳ để giải thoát các con tin. Kết quả là với kỹ thuật đặc thù của Ninjitsu, cuộc tấn công đã hoàn tất chớp nhoáng chỉ trong mấy phút. Với công trạng diệu kỳ này, môn Ninjitsu đã được chấp nhập phục hồi, hầu truyền dạy cho những người đương đại các kỹ thuật huyền bí của môn võ “thần kỳ” này phục vụ cho những mục đíchtốt đẹp của xã hội và nhân loại.

Chương trình huấn luyện:

Chương trình huấn luyện môn Ninjitsu hiện đại bao gồm 8 phần:

1. Đánh bằng tay không.

2. Nhào lộn.

3. Đánh bằng côn gỗ

4. Sử dụng vũ khí lạnh và ném liệng đối thủ.

5. Đánh bằng dây xích và kiếm.

6. Cách tẩu thoát và đột nhập vào những nơi đã đóng kín.

7. Nghệ thuật nguỵ trang.

8. Chiến lược tác chiến.

Toàn bộ chương trình huấn luyện của Ninjitsu hiện đại phát triển theo ba cấp độ:

Cấp độ thứ nhất:

Người tập nắm vững được các phương pháp giao đấu sơ đẳng bằng tay không. Những nhóm cơ bắp và các dây chằng trong cơ thể được phát triển nhằm tạo cho nguời tập sự mềm deỏ, linh hoạt cao, nhào lộn giỏi. Sự tập luyện trong giai đoạn đầu rất gay go: người tập phải rơi xuống những sàn cứng, bò trườn một khoảng cách rất xa, cũng như phải tập vượt qua 300 km với nhiều chướng ngại vật trong một ngày. Người tập cũng học cách chuyển dịch không gây tiếng động và thoát khỏi cuộc phục kích của địch.

Cấp độ thứ hai:

Học tập và phân biệt năm trạng thái tâm lý của đối phương: thói hám danh, tính nhút nhát, sự nóng nảy, thói lười biếng, nhu nhược, cũng như nắm bắt được năm dục vọng của kẻ thù: đói, động dục, tự mãn, tham lam, tự kiêu. Với những bản lĩnh tâm lý này, môn đồ Ninjitsu bắt đầu trở thành những Ninja: vừa thành thạo các kỹ thuật song hành với việc hiểu biết tâm lý, đó là yếu tố của sự chiến thắng.

Cấp độ thứ ba:

Ninjitsu truyền dạy cho môn đồ tinh thần kiên tâm tối thượng, thông hiểu chín mức độ định thần bí mật của môn phái. Mỗi mức độ tương ứng với sự đan chéo những ngón tay một cách kỳ bí và một âm thanh đặc biệt cho phép họ kết hợp nghị lực tinh thần của con người với trí tuệ vạn năng của thiên nhiên.

Thực tế và huyền thoại:

Nhiều người nói rằng chương trình huấn luyện của Ninjitsu hiện đại rất sơ lược so với chương trình huấn luyện truyền thống. Họ đã viện dẫn những khả năng gần như huyền thoại của các Ninja để khẳng định thêm phán đoán trên. Chẳng hạn như các Ninja có thể chết vài giờ và sống lại sau đó, có thể đi trên tường, trên mặt nước, có thể tàng hình …!

Tuy nhiên, theo nhiều nhà nghiên cứu võ học thì Ninjitsu truyền thống và Ninjitsu hiện đại không cách xa nhau lắm. Chương trình huấn luyện Ninjitsu truyền thống cũng bao gồm việc rèn luyện cho các Ninja khả năng sử dụng thông thạo các môn võ, các loại vũ khí(bao gồm cả ám khí, hơi độc, hoả khí …) các phương pháp di chuyển, đột nhập và đào thoát trong mọi điều kiện, cũng như cách nguỵ trang, ẩn thân, thậm chí giả chết nhằm mục đích tối thượng là hoàn thành tốt đẹp sứ mạng đã nhận lãnh. Tuy nhiên do quá bất ngờ trong sự chạm trán với các Ninja, người ta không lý giải được các hành tung đặc dị của những sát thủ vô hình này, nên đã gán vào đấy một bức màn sương mù huyền thoại. Thật ra, tất cả đều do quá trình khổ luyện môn Ninjitsu một cách thành thục mà thôi.

Chẳng hạn việc Ninja có thể sống dưới nước như loài cá mà dân gian vẫn thường truyền tụng, thực chất là các Ninja đã sử dụng các ống sậy rỗng hoặc bao kiếm làm ống thở, và như thế tha hồ ở dưới nước bao lâu cũng được. Thêm nữa, các Ninja có thể mang theo một túi da chứa đầy không khí để thở khi phải ở dưới nước một thời gian.

Còn việc đi trên mặt nước chính là các Ninja đã sử dụng được loại giày da bơm đầy khí. Tuy nhiên, để sử dụng được loại giày này, họ phải khổ công tập luyện nhiều năm mới đạt được sự thăng bằng và sự kiểm soát thân thể để có thể đứng vững trên mặt nước.

Các Ninja cũng thường mang theo những ống thuốc nổ, khi túng cùng thì quăng ngay vào mặt địch thủ. ống thuốc nổ tung, khói bay mù mịt, làm loà mắt địch thủ trong giây lát và như thế Ninja có thể biến mất(hay tàng hình) trong đám khói mù y như các lão phù thuỷ vậy.

Các Ninja thường rất mạnh khoẻ và tập chạy nhảy, leo trèo rất kiên trì. Họ có thể nhảy rất xa và rất cao. Ngoài ra, có lúc Ninja đã dùng một đồ vật tương tự như chiếc dù để nhảy từ nơi cao xuống một cách an toàn. Điều này giải thích các huyền thoại về khả năng bay của họ.

Ninja cũng sử dụng một số dụng cụ giúp họ vào nhà, vào thành một cách dễ dàng. Họ mang những đôi giày xốp nên có thể bám vào tường hay vách đá mà leo lên. Một dụng cụ khác nổi tiếng của Ninjitsu là một miếng da cuốn chung quanh lòng bàn tay và vòng qua cổ tay, có gắn sẵn bốn mũi nhọn lồi ra phía lòng bàn tay. Những mũi nhọn này có thể dùng để bám vào tường, vào xà nhà trên trần và chuyền tay đi qua một căn phòng mà chân không hề chạm đất. Miếng da này còn là một khí giới lợi hại khi đối mặt với kẻ thù. Một cú đâm thẳng bằng dao hay bằng gươm có thể dùng một tay để đỡ, tay kia đánh cả bốn mũi nhọn vào mặt kẻ thù.

Còn khả năng của các Ninja có thể chết đi rồi vài giờ sau sống lại chính là nhờ ở những kỹ thuật hạn chế hơi thở giống như môn Yoga của ấn độ. Thật vậy, một Ninja có thể ở dưới nước trong một thời gian mà không cần ống sậy hay túi khí, cũng như có thể giả

chết để lừa đối phương chính là nhờ khả năng hạn chế hơi thở của môn Ninjitsu. Khả năng han chế hơi thở này còn cho phép họ đứng im trong một lúc khá lâu, nhờ vậy mà có thể lẫn lộn vào các bụi cây hay các tảng đá và không động đậy để không bị kẻ địch khám phá.

Do tính đặc thù của môn phái là gắn bó chặt chẽ với sứ mệnh đặc biệt quan trọng cho nên Ninjitsu đòi hỏi những môn đồ khi nhập môn phải hội đủ ba điều kiện: ý thức trách nhiệm cao, trí phán đoán nhanh nhạy và một thân thể khoẻ mạnh để có thể chịu đựng được quá trình tập luyện cũng như quá trình hoạt động đầy gian lao nguy hiểm.

Ngoài ra, Ninjitsu còn đòi hỏi các Ninja phải biết chết ngay tức khắc hoặc giết chết đồng môn của mình, khi bị sa vào lưới của địch thủ và không có đường đào thoát. Có thể xem những yêu cầu vừa nêu trên đã tạo cho Ninjitsu sắc thái độc đáo trong giới võ lâm, tạo ấn tượng sâu sắc cho mọi người khi nghiên cứu về môn phái này. Nhưng cũng phải chẳng chính yếu tố bảo mật này đã làm cho Ninjitsu hiện đại đã mất đi tính hấp dẫn như Ninjitsu truyền thống đã từng có?

Theo maxreading.com

Thông tin cần biết về thuật ném phi tiêu

Thông tin cần biết về thuật ném phi tiêu

Điều nầy giải thích tại sao khi sử dụng phi tiêu, người ta thường để cho địch thủ đến gần. Khoảng cách càng ngắn, tiêu ném càng chính xác, bất ngờ.

Thông tin cần biết về thuật ném phi tiêu

Thông tin cần biết về thuật ném phi tiêu

Khó có thể nói đích xác thời điểm xuất hiện của thuật ném phi tiêu ở Nhật bản. Thời xa xưa, phụ nữ nhật đã biết sử dụng vài loại vũ khí gọn nhẹ để tự vệ như dao ngắn (Kaiken) vàcây trâm cài tóc (Kazashi). Dao vàtrâm thường dài độ 8-9cm vàtrong tầm gần, chúng có thể được ném đi như phi tiêu. Với kích thước nhỏ bé dễ cất dấu, mũi bén nhọn thường tẩm thuốc độc, một cây trâm cài tóc khi hữu sự trở nên vô cùng nguy hiểm.

1. LỊCH SỬ CỦA THUẬT NÉM PHI TIÊU:

Khó có thể nói đích xác thời điểm xuất hiện của thuật ném phi tiêu ở Nhật bản. Thời xa xưa, phụ nữ nhật đã biết sử dụng vài loại vũ khí gọn nhẹ để tự vệ như dao ngắn (Kaiken) vàcây trâm cài tóc (Kazashi). Dao vàtrâm thường dài độ 8-9cm vàtrong tầm gần, chúng có thể được ném đi như phi tiêu. Với kích thước nhỏ bé dễ cất dấu, mũi bén nhọn thường tẩm thuốc độc, một cây trâm cài tóc khi hữu sự trở nên vô cùng nguy hiểm. Thuật ném phi tiêu Shuriken-Jutsu (Shuriken: phi tiêu; Jutsu: nghệ thuật) bắt nguồn từ cách sử dụng những mũi dao nhọn làm bằng sắt hay thép dài từ 7-22cm. Sau đó là sự phát triển của đoản kiếm (Tanto) và cuối cùng lại trở về với phi tiêu. Có thể đoản kiếm không được chuộng vì đắt tiền và không tiện để ném, không thể mang theo người nhiều như phi tiêu. Hiện nay võ Nhật có 3 trường phái sử dụng phi tiêu được biết đến nhiều nhất: Negishi-ryu, Shirai-ryu vàChisin-ryu.

2. CÁC LOẠI PHI TIÊU KHÁC NHAU:

Căn cứ vào hình dạng, chúng ta có khoảng 20 loại phi tiêu. Có loại nhọn 1 đầu, có loại nhọn cả 2 đầu; dài, ngắn, dầy, mỏng…khác nhau. Dù mang hình dáng nào, phi tiêu cũng phải đáp ứng được hai đòi hỏi tiên quyết:

– Gọn, nhỏ dễ mang theo người.

– Khi được ném ra, chúng phải khó thấy để né tránh.

Điều nầy giải thích tại sao khi sử dụng phi tiêu, người ta thường để cho địch thủ đến gần. Khoảng cách càng ngắn, tiêu ném càng chính xác, bất ngờ.

3. CẦM PHI TIÊU:

Phi tiêu được nằm gọn trong lòng bàn tay với 4 ngón duỗi thẳng, ngón cái giữ phi tiêu ở vị trí cố định. Đầu nhọn có thể hướng ra phía đầu ngón tay hay quay về phía cổ tay.

Nếu nhắm vào mục tiêu ở gần, ta để cho phần mũi nhọn ló ra khỏi các đầu ngón tay nhiều và ngược lại, ta cầm phi tiêu với mũi nhọn thấp khi muốn ném xa.

4. KỸ THUẬT NÉM PHI TIÊU:

Trước hết, khi ném phải giữ cổ tay thật thẳng. Nếu bạn cong hay quặc cổ tay, mũi phi tiêu sẽ xoáy quá đà trên đường tới đích.

Kế đến là khoảng cách từ bạn đến đích. Kỹ thuật ném thay đổi tùy theo khoảng cách xa hay gần. Phi tiêu khi được ném ra sẽ xoay theo vòng tròn trước khi chạm đích. Bạn phải tính toán được số vòng quay của phi tiêu tùy theo đích ném xa hay gần. Ở tầm ném gần, phi tiêu chỉ xoay 1/2 vòng trước khi đến đích. Ở khoảng cách xa, phi tiêu sẽ xoay 1 vòng hay nhiều vòng. Nếu ném gần, chú ý cách cầm phi tiêu với mũi nhọn ra khỏi đầu ngón tay nhiều, bước chân bỏ tới rộng, chồm người về phía trước khi ném, phi tiêu sẽ đi nhanh và mạnh hơn.

Khi ném xa, cầm phi tiêu thấp hơn so với khi ném gần, đứng thẳng người, nhắm kỹ trước khi ném.

Khi bắt đầu tập luyện, nên đứng gần đích độ vài mét. Nếu bạn cầm phi tiêu mũi nhọn hướng ra phía đầu ngón tay, khi ném nó sẽ bay thẳng tới đích, không xoay vòng. Sau đó bạn bước lui xa thêm vài bước nữa. Cứ thế mà bạn tìm ra khoảng cách thích hợp cho phi tiêu xoay đủ một vòng trước khi đến đích. Với một người tầm vóc trung bình, khoảng cách đó nằm trong khoảng 4-5m. Tiếp tục đứng xa dần đích, tìm khoảng cách thích hợp cho 1 vòng rưởi, 2 vòng và hơn nữa. Nếu bạn thuận tay phải, đứng chân phải trước, khi ném chân trái bước lên. Nếu phi tiêu chạm ngay đích với mũi nhọn hướng lên, bạn bước lui 1 hay 2 bước.

Nếu phi tiêu chạm đích với mũi quay xuống, bạn bước lên 1 hay 2 bước. Nếu phi tiêu chạm đích với phần đuôi không nhọn hoặc có lúc xoay mũi lên, có lúc xoay xuống, bạn nên chú ý lại cổ tay, có thể bạn đã cong cổ tay khi ném. Mỗi khi tìm ra khoảng cách thích hợp, đánh dấu điểm đứng hay đo khoảng cách đó. Dần dần bạn sẽ quen ước lượng và chọn đúng khoảng cách thích hợp cho mỗi lần ném. Sự chính xác sẽ hoàn thiện dần qua quá trình tập luyện kiên trì.

5. CHỌN ĐÍCH NÉM PHI TIÊU:

Việc chọn đích thích hợp để tập ném khá đơn giản. Bạn có thể chọn những miếng ván dầy 4-5cm, dài độ 1-1,2m, đóng dính lại bằng 2 miếng gỗ chéo ở 2 mặt sau. Nên chọn loại gỗ thông vì chúng có độ mềm thích hợp cho việc luyện tập. Gốc cây, bức tường gỗ của căn nhà bỏ hoang… tất cả đều có thể biến thành đích ném, miễn là phi tiêu cắm vào được. Nếu muốn, bạn có thể sơn những vòng đồng tâm trên gỗ để tập.

6. AN TOÀN TRONG LUYỆN TẬP NÉM PHI TIÊU:

Dù nhỏ bé nhưng phi tiêu làmột vũ khí nguy hiểm nếu như bạn sử dụng bất cẩn. Trong lúc tập ném, phải hết sức thận trọng, không để người xem đến gần đường ném và đích. Phi tiêu có thể bị nẩy dội khi chạm đích, văng ra chung quanh. Đừng ném bừa bãi vào của cải vật chất công cộng hay cá nhân, cất giữ ngoài tầm tay của trẻ con.

7. CÁCH LÀM PHI TIÊU:

Phi tiêu được làm bằng thép, chiều dài 14cm và18cm là thích hợp nhất, nhọn một đầu. Phần nhọn khoảng 2,5cm tính từ mũi. Bạn nên làm nhiều phi tiêu để dễ tập, đỡ mất thời gian phải đi lại thu hồi các phi tiêu đã ném. Các võ sĩ đạo thường mang theo người 5-6 phi tiêu một lúc.

Nguyễn Dương Linh Vũ

Theo maxreading.com

Những môn phái võ tại Việt Nam nên biết

Những môn phái võ tại Việt Nam nên biết

Ông Nguyễn Lộc trưởng thành trong thảm cảnh quê hương Việt Nam bị thực dân Pháp đô hộ hơn nửa thế kỷ. Thanh niên Việt Nam lúc bấy giờ đang bị chi phối bởi hai khuynh hướng.

Những môn phái võ tại Việt Nam nên biết

Những môn phái võ tại Việt Nam nên biết

Môn Phái Vovinam-Việt Võ Đạo:

Sơn Tây (nay thuộc tỉnh Hà Tây) được tạo nên bởi phù sa của ba dòng sông lớn: sông Nhị (Hồng Hà), sông Đà (Hắc Giang) và sông Lô; và hai nhánh sông nhỏ: sông Con (Tích Giang) bắt nguồn từ Ba Vì chảy quanh vùng và sông Đáy (Hát Giang) chạy ven địa giới phía Đông của tỉnh đã góp phần tạo cho Sơn Tây thành một vùng đất phì nhiêu, màu mỡ. Bên cạnh đó, Sơn Tây còn có ngọn Ba Vì hùng vĩ. Gần Ba Vì là hệ thống núi lửa Đa Chông trùng điệp và một dãy núi đá vôi lớn ở phủ Quốc Oai (Phong Châu cũ) chiếm cứ một dãy đất rộng lớn từ bờ sông Đáy đến sông Đà. Tuy thuộc vùng châu thổ tiếp giáp với đồi núi nhưng khí hậu của Sơn Tây lại gần giống với các tỉnh vùng cao, nên người dân vừa có tinh thần khoáng đạt của người miền núi, vừa có nếp sống văn minh của cư dân các tỉnh đồng bằng. Địa linh này đã sản sinh nhiều nhân kiệt như Nguyễn Tuấn (Sơn Tinh), Bố Cái Đại Vương, Trưng Vương, Ngô Quyền, Từ Đạo Hạnh, Vũ Công Duệ, Phùng Khắc Khoan, Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu… Và tại làng Hữu Bằng, huyện Thạch Thất, ngày mồng tám tháng tư năm Nhâm Tý (ngày 24 tháng 5 năm 1912), cậu bé Nguyễn Lộc đã cất tiếng khóc chào đời.

Ông là trưởng nam trong một gia đình có 5 người anh em (Nguyễn Thị Thái, Nguyễn Dần, Nguyễn Hải và Nguyễn Thị Bích Hà). Thân sinh là cụ ông Nguyễn Đình Xuyến và thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Hòa. Gia tộc cụ ông từng sinh sống, làm ăn lâu đời tại làng Hữu Bằng. Một thời gian sau, vì sinh kế, cụ ông chuyển gia đình về Hà Nội và ngụ trong một ngôi nhà bình dị tại đường Harmand Rousseau (phía sau chợ Hôm). Khi người con trai đầu lòng cắp sách đến trường, cụ ông đã nhờ một vị lão võ sư khai tâm cho con mình những thế võ và vật dân tộc để rèn luyện sức khỏe và phòng thân.

Ông Nguyễn Lộc trưởng thành trong thảm cảnh quê hương Việt Nam bị thực dân Pháp đô hộ hơn nửa thế kỷ. Thanh niên Việt Nam lúc bấy giờ đang bị chi phối bởi hai khuynh hướng: Một bên là hy sinh dấn thân vào con đường cách mạng cứu nước; còn một bên kia là buông mình theo lớp vỏ văn minh hào nhoáng của phương Tây mà những thú vui sa đọa, những phong trào thể thao của lớp thượng lưu trưởng giả được thực dân Pháp khuyến khích để ru ngủ các tầng lớp thanh niên. Là một thanh niên yêu nước, ông Nguyễn Lộc vô cùng đau lòng trước thực trạng quê hương. Tất nhiên, ông không bằng lòng và lên án gắt gao dã tâm của bọn thực dân thống trị và tay sai. Theo ông, một trong những yếu tố đưa cuộc cách mạng giải phóng dân tộc đến thành công là cần phải xây dựng cho người thanh niên một lòng yêu nước sâu sắc, một tinh thần tự hào dân tộc, một ý thức cách mạng, ý chí quật cường và nghị lực quả cảm; tất cả những điều đó phải được chứa đựng trong một thân thể khỏe mạnh, đanh thép, sức lực dẻo dai, chịu đựng được mọi gian khổ, có khả năng tự vệ và chiến đấu. Vì thế, ông có ước vọng góp phần nung đúc và cống hiến cho tổ quốc những người con yêu có đạo đức, ý chí quyết thắng sự hèn yếu, bạc nhược về tâm hồn và thể xác hầu vươn lên đến một lối sống tốt đẹp hơn: “Sống, giúp người khác sống và sống vì người khác.”

Mang hoài bão ấy, ngoài việc tu dưỡng đạo đức trau giồi học vấn, ông còn dành thời gian sưu tầm, nghiên cứu nhiều môn võ khác. Ngày đêm ông thường bầu bạn với nhiều loại sách báo khác nhau từ Triết học, Văn học, Sử học… đến cả Y học, Cơ thể học. Tất cả những ý tưởng quan trọng về võ học và những vấn đề liên quan đều được ông ký chú, phân loại cụ thể. Khu vực bờ đê sông Hồng từ bến Phà Đen đến Viện Bác cổ, nhà Hát Lớn đều có dấu chân ông chạy nhảy, đi quyền, múa côn… từ lúc mặt trời chưa tỉnh giấc. Ngoài ra, ông còn đến tham quan các võ đường, dự khán những trận tỉ thí võ đài hoặc mạn đàm cùng một số võ sư thời danh hầu tìm hiểu thêm các đòn thế hay, đẹp, hiệu quả của các môn võ Trung Quốc, Nhật, Xiêm, Quyền Anh…

Qua đó, ông nhận thấy môn nào cũng có ưu điểm. Có môn thiên về cương, kỹ thuật cứng và mạnh; có môn thiên về nhu, kỹ thuật linh hoạt, khéo léo, uyển chuyển, ít dùng sức. Riêng các môn võ Việt Nam rất độc đáo, không theo cương hay nhu nhất định mà biến hóa, linh động tùy theo thể tạng mỗi người, mỗi địa phương. Do sáng tạo từ lâu đời, võ Việt Nam cũng có một số kỹ thuật không còn phù hợp với thời đại mới nhưng ông cũng nhận thấy rằng các kỹ thuật đó vẫn phát triển được những tố chất của cơ thể như thăng bằng, chính xác, khéo léo… mà con người ở thời đại nào cũng cần. Vấn đề cốt lõi là thông qua những bài bản xưa, đào sâu tinh nghĩa, tìm ra phương pháp huấn luyện mới, đáp ứng được tính dân tộc. Từ việc nhận ra thực chất của những kỹ thuật, bài võ đi đến việc nhận rõ giá trị đặc thù của từng môn võ, đồng thời đối chiếu với đặc điểm tâm lý và thể tạng của người Việt Nam: ông nhận thấy cần phải xây dựng một môn võ mang tính dân tộc, khoa học và hiện đại để giúp thanh niên có một phương pháp rèn luyện sức khỏe, tự vệ và chiến đấu mang danh dân tộc vì trong mọi cuộc chiến đấu, vấn đề tinh thần và danh dự là hai yếu tố quan trọng góp phần quyết định sự thành bại.

Với các luận cứ đó, ông Nguyễn Lộc đã lấy môn vật và võ dân tộc Việt Nam làm nồng cốt, khai thác mọi tinh hoa võ thuật đã có trên thế giới để sáng tạo một môn phái riêng đặt tên là VOVINAM (từ quốc tế hóa của cụm từ “Võ Việt Nam”).

Khoảng mùa thu năm 1938, khi việc nghiên cứu hoàn thành, ông mang ra huấn luyện thể nghiệm cho một số thân hữu cùng lứa tuổi. Trong thời gian này, Vovinam lại được ông tiếp tục sửa chữa, bổ sung về lý luận lẫn kỹ thuật. Ngót một năm sau, ông đem lớp môn sinh đầu tiên công khai ra mắt quần chúng tại nhà Hát Lớn Hà Nội. Cuộc biểu diễn thu hút đông đảo người xem và thành công rực rỡ.

Để tạo thuận lợi trong việc truyền bá và phát triển “người con tinh thần” của mình, Sáng Tổ nhận lời mời của bác sĩ Đặng Vũ Hỷ – Hội Trưởng Hội Thân Hữu Thể Thao – tổ chức các lớp dạy Vovinam dành cho thanh niên. Lớp võ công khai đầu tiên khai giảng vào mùa xuân năm 1940 tại trường Sư phạm (École Normale) ở phố Cửa Bắc, Hà Nội. Sau đó, nhiều lớp võ liên tục được mở ra.

Nhớ lại những sự việc có ý nghĩa sâu sắc, các môn đệ ở thời kỳ 1938-1940 thường kể lại tấm gương “uy vũ bất năng khuất” của vị Sáng Tổ môn phái. Trong buổi biểu diễn vào mùa thu 1940, có một viên chức cao cấp của thực dân Pháp là Trung tá Maurice Ducoroy chủ tọa; vì hắn ta là biểu tượng cho thực dân thống trị ngồi trên khán đài nên Sáng Tổ không cho các môn sinh “Nghiêm Lễ” (lối chào của Vovinam) khán giả như thường lệ mà đưa môn sinh vào hậu trường nghiêm mình làm lễ trước bàn thờ tổ quốc đã được lập sẵn. Giữa cuộc biểu diễn, ông Đặng Vũ Hỷ mời ông lên khán đài để Ducoroy tặng huy chương. Biết không thể từ chối, ông đành phải lên nhận, nhưng khi rời “khán đài danh dự,” ông điềm nhiên gỡ huy chương bỏ vào túi và ung dung điều khiển tiếp cuộc biểu diễn. Hành động trên không những làm bẽ mặt chức quyền thực dân mà còn gây xúc động sâu xa về lòng yêu nước và ý thức dân tộc trong giới thanh niên và nhất là các môn sinh Vovinam thời đó.

Từ đó, Vovinam luôn luôn châm ngòi cho phong trào công khai chống Pháp. Phong trào đó được phát động mạnh vào năm 1942, từ vụ đụng độ chính thức giữa hai giới sinh viên Việt-Pháp tại trường Đại Học Hà Nội và công chức tại Sở Canh Nông, đều do các sinh viên và viên chức môn sinh Vovinam chủ xướng. Vì thế, chính quyền thực dân Pháp ra lệnh đình chỉ các lớp võ thuật tại trường Sư Phạm, cấm chỉ Sáng Tổ hoạt động. Đây chính là giai đoạn thử thách quan trọng nhất của môn phái Vovinam. Sáng Tổ vẫn bí mật dạy một số môn đệ tâm huyết ở nhà riêng và phát động phong trào công khai chống Pháp trong quảng đại quần chúng.

Ít lâu sau, Vovinam cộng tác với các đoàn thể ái quốc tổ chức các ngày Giỗ Tổ Hùng Vương, kỷ niệm Hai Bà Trưng, các công cuộc cứu tế xã hội, triệt hạ tượng đồng thực dân tại các vườn hoa Paul Bert, Canh Nông… Đồng thời nhiều lớp võ tự vệ được mở ra tại nhiều nơi ở Hà Nội đã thu hút hàng chục ngàn môn sinh.

Sự hâm mộ Vovinam trong quần chúng thời đó được bộc lộ bằng những khẩu hiệu: “Người Việt học võ Việt”, “Không học Vovinam không phải là người yêu nước”… Tinh thần ái quốc và tiềm lực dân tộc được khơi dậy.

Ở thời kỳ này, việc đấu tranh giành độc lập là nhu cầu bức thiết của đất nước. Do đó, kỹ thuật võ phát xuất từ nghiên cứu sáng tạo của Sáng Tổ rất đơn giản, hữu hiệu mà dễ tập, dễ áp dụng nhưng rất cương mãnh, dữ dội, đặt nặng tính tốc chiến tốc thắng với phương pháp huấn luyện chú trọng nhiều về ngoại công thân thép, tốc lực, sức chịu đựng và sức bền bỉ. Chương trình tuy có phân cấp sơ, trung, và cao đẳng nhưng không mấy ai học quá ba năm, một phần vì thời cuộc, vì nhu cầu ứng phó cấp thiết; một phần đôi lúc do nhà cầm quyền Pháp cấm cản, hàng ngũ cốt cán phải tập luyện bí mật. Các lớp võ công khai lúc bấy giờ thường chỉ kéo dài ba tháng với những đòn cận chiến đơn giản.

Tháng 4-1945, từng đợt võ sư Vovinam được tung đi khắp toàn quốc để quảng bá và giúp cho thanh niên có một lợi khí chống xâm lăng hữu hiệu.

Ngày 19-12-1946, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Võ Sư Sáng Tổ lãnh đạo các môn đệ cùng toàn dân tham gia kháng chiến chống Pháp. Một số môn đồ đã trở thành những chỉ huy nổi tiếng, và một số đã hy sinh cho Tổ Quốc.

Khi Việt Minh bắt đầu thao túng cuộc kháng chiến và lộ bản chất là những con người Cộng Sản khát máu, Ông đã ngưng mọi sự giúp đỡ của Môn Phái cho Việt Minh. Với chủ trương tiêu diệt những sự chống đối, Việt Minh đã ra lệnh lùng bắt Võ Sư Sáng Tổ cùng các môn đồ. Bị lùng bắt bởi hai lực lượng đối nghịch là Việt Minh và chính quyền Pháp, Ông đã ra lệnh cho các môn đồ phân tán mỏng về các địa phương để ẩn tránh. Còn một số ít môn đồ tâm huyết theo Ông lên mạn ngược trở về quê hương ông.

Tại làng Hữu Bằng, Sáng Tổ đã mở lớp võ cho thanh niên huyện Thạch Thất và cử môn đệ phụ trách lớp võ thuật cho Sinh Viên Sĩ Quan trường Quân Chính Trần Quốc Tuấn. Sau đó Ông lại lên đường phiêu bạt, mở rải rác các lớp Huấn Luyện cho Đại và Trung Đội Trưởng Dân Quân Du Kích ở làng Chế Lưu, Ẩm Thượng, Thanh Hương, Đan Hà, Đan Phú…

Vào tháng 3 năm 1948, Ông xuôi Phát Diệm, đến khu ăn toàn của giáo xứ Phát Diệm. Ông cử môn đệ phụ trách huấn luyện cho Tổng Bộ Tự Vệ Công Giáo Phát Diệm của Tổng Chỉ Huy Trần Thiện.

Tháng 8-1948, Ông hồi cư về Hà Nội, tái mở những lớp võ cho thanh niên để gây dựng lại phong trào học Vovinam, kiến thiết lại đời sống xã hội, khơi lại lòng tin yêu của thanh niên trong việc tu dưỡng tinh thần và rèn luyện thân thể.

Năm 1951, Ông cộng tác với một số nhân sĩ thành lập Việt Nam Võ Sĩ Đoàn với những lớp võ đại chúng tại sân trường Hàng Than, Hà Nội.

Ngày 20-7-1954, Hiệp Ước Genève phân chia Việt Nam bằng vĩ tuyến 17 ra làm hai nước: miền Bắc Cộng Sản và miền Nam Quốc Gia. Đây là một cơ hội thử thách mới cho môn phái nói chung, và Sáng Tổ nói riêng. Nếu Sáng Tổ ở lại miền Bắc thì môn phái Vovinam sẽ bị khống chế bởi Cộng Sản. Nếu Sáng Tổ quyết định ra đi, tất nhiên sẽ ảnh hưởng ngay tới một số môn đệ tâm huyết vì miền Bắc là quê hương của đại đa số môn sinh ruột thịt, và sẽ bỏ lại đất Bắc một số môn đệ khác đã dày công lao đào tạo, vì các môn đệ này còn bị liên hệ nhiều tới gia đình, quyến thuộc và quê hương tại miền Bắc. Ngược lại, miền Nam vẫn còn là giải đất xa lạ, chưa được hiểu biết gì nhiều. Nếu vào Nam thì phải trả bằng một giá rất đắt: lại trở về từ khởi điểm, trong lúc Sáng Tổ mỗi ngày một lớn tuổi, các tầng lớp môn đệ cũ đã bị thời cuộc và sinh hoạt chính trị làm băng hoại rất nhiều. Vào miền Nam với chương trình xây dựng lại từ đầu, không ai có thể trắc lượng trước được những khó khăn và triển vọng trong những năm sắp tới.

Cuối cùng Võ Sư Sáng Tổ lại một lần nữa quyết định sáng suốt: vượt lên khỏi những khó khăn, trở ngại, để quyết định vào Nam tạo dựng lại từ đầu, trong những điều kiện không thuận lợi. Vì vậy cho nên vào tháng 7-1954, Sáng Tổ cùng các môn đồ tâm huyết di cư vào Nam, mở võ đường tại đường Thủ Khoa Huân (Sài Gòn). Sáng Tổ đã cử các võ sư môn đệ phụ trách các lớp võ cho Hiến Binh Quốc Gia tại Sài Gòn và Thủ Đức…

Giữa năm 1957, Sáng Tổ nằm bệnh phải tạm nghỉ dạy một thời gian. Ông ủy quyền cho người môn đệ trưởng tràng là Võ sư Lê Sáng tạm thời thay thế việc phụ trách các lớp võ. Tuy không trực tiếp giảng dạy Vovinam nhưng Sáng Tổ vẫn không ngừng tìm tòi, phân tích các kỹ thuật lẫn tài liệu của Vovinam, hầu phát huy môn phái. Sáng Tổ vẫn thường xuyên theo dõi các môn đệ tiếp tục hoạt động theo đường lối mà Ông đã đề ra.

Cũng vào thời điểm này, căn cứ vào các ý niệm tiên khởi về Cách Mạng Tâm Thân do Sáng Tổ giảng dạy, Vs. Lê Sáng đã hình thành hệ thống hóa kỹ thuật võ học, lý thuyết võ đạo và đường hướng, tôn chỉ và mục đích của môn phái. Đồng thời Võ sư Lê Sáng quy tụ lớp môn đệ đã theo tập Sáng Tổ từ năm 1955, bồi dưỡng thành lớp võ sư cốt cán chung tay phát triển môn phái.

Năm 1958, Võ sư Lê Sáng được bầu vào chức vụ Tổng Thư Ký Tổng Cuộc Quyền Thuật Việt Nam và đảm nhiệm chức vụ này cho đến năm 1968. Trong thời kỳ này, Võ sư Lê Sáng đã nghiên cứu, tìm hiểu sâu về các môn võ cổ truyền, và ông đã rút ra được tinh túy và tìm cách bổ túc, cùng chỉnh lại phần phân thế thất truyền của những bài võ xưa mà lập ra một hệ thống mới “một phát triển thành ba” cho môn phái sau này.

Nam Hồng Sơn:

Môn phái Nam Hồng Sơn được sáng lập bởi võ sư Nguyễn Văn Tỵ, hay còn gọi là Nguyễn Tỵ. Võ sư Nguyễn Tỵ, sinh quán tại Hà Nội và đã hơn 60 tuổi, vốn là con của cố lão võ sư Nguyễn Văn Tộ, tức Sáu Tộ, người từng nức tiếng giỏi võ Ta lẫn võ Tàu tại Hà Thành và là bạn của các bậc tiền bối võ thuật Việt Nam như: Ba Cát, Hàn Bái, Cử Tốn…

Võ sư Nguyễn Tỵ đã được bố truyền dạy võ nghệ từ năm lên 9, và lúc trai trẻ ông cũng từng dạy võ cho thanh niên tại làng Văn Hội (Thường Tín, Hà Đông). Ngoài ra ông còn là một trong những “cây guitar” sáng chói của đất Hà Thành.

Từ năm 1984 trở lại đây, phong trào võ thuật Hà Nội được khôi phục, võ sư Nguyễn Tỵ vừa dạy đàn, vừa dạy võ. Trên lãnh vực võ thuật, trong hơn 10 năm, ông đã mở nhiều lớp dạy võ tại Hà Nội, Hà Tây với danh xưng môn phái là Nam Hồng Sơn, đồng thời đào tạo được nhiều lực lượng kế thừa có uy danh trong làng võ xứ Bắc.

Về mặt kỹ thuật, võ sư Nguyễn Tỵ vẫn trung thành với chương trình giảng dạy của cha ông sử dụng lúc sinh thời. Ba năm đầu dành cho việc luyện tập võ Tàu gồm: tấn pháp, đòn thế, Long hổ quyền, Tứ lộ đoản quyền, Thảo mã quyền, Thượng vũ quyền, Hồng côn, Tề mi côn, Quý châu kiếm, Liên hoa độc kiếm, Liên hoa song kiếm…

Những năm tiếp theo dành cho việc luyện tập võ Ta, với các bài như: Lão mai, Ngọc trản, Đao xung thiên… Cuối cùng là phần tập luyện khí công và nội công. Võ phục môn phái Nam Hồng Sơn màu đen, đai đẳng gồm 7 màu cấu tạo nên ánh sáng, theo thứ tự từ thấp lên cao là: đen, xanh, chàm, tím, cam, vàng và đỏ. Riêng đai đỏ dành cho HLV thì chia làm 3 cấp: nhất đẳng, nhị đẳng và tam đẳng.

Song song với việc dạy võ, võ sư Nguyễn Tỵ vẫn đang dạy đàn guitar tại nhà riêng ở số 67, đường Bạch Mai, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội. Đối với võ sư Nguyễn Tỵ, võ nghệ và âm nhạc tuy là hai loại hình văn hóa khác nhau, nhưng tựu trung chỉ là một, bởi cả hai thứ đều cùng là nghệ thuật cả!

Thăng Long Võ Đạo :

Trong lịch sử võ Việt Nam, các vùng được coi là cái nôi của võ thuật đất Bắc là Thăng Long, Hà Bắc, Sơn Tây… Những vùng đất này đã nảy sinh nhiều anh hùng hào kiệt, Trạng nguyên, Bảng nhãn, Cử nhân võ thuật. Nhiều huyền thoại trong làng võ cũng được lưu truyền từ đây. Thăng Long võ đạo là một môn phái võ mang trong mình huyền thoại đẹp, lấp lánh tinh thần yêu nước và thượng võ

Chuyện lưu danh làng võ Hà thành thất thủ, Tổng đốc Hoàng Diệu tuẫn tiết. Một võ tướng của ông là cụ Cử Tốn – vị cử nhân cuối cùng của triều Nguyễn – lui về ở ẩn, mở lò dạy võ ở khu vực phố Trần Quý Cáp bây giờ. Trong lòng viên tuỳ tướng của vị quan giữ thành bất khuất đau đáu một tâm nguyện khi Tổ quốc cần sẽ lại cùng môn sinh phò vua giúp nước. Giặc Pháp coi cụ như cái gai trước mắt. Chúng hãm hại làm cụ mù hai mắt. Song, những bí kíp võ công của cụ đã được lớp truyền nhân tinh hoa như Mùi Đen, Tư Côi, Lý Đen… lĩnh hội.

Để triệt hạ lò võ giàu tinh thần yêu nước này, giặc sắp sẵn mưu gian lập đả lôi đài treo thưởng cho võ sư ba xứ Bắc – Trung – Nam và toàn cõi Đông Dương đánh thắng thầy trò Cử Tốn sẽ được thưởng Bắc Đẩu bội tinh. Biết được âm mưu thâm độc muốn gây cảnh nồi da nấu thịt trong làng võ và để cho một số võ sư và dân chúng quên đi kẻ thù chính là giặc Pháp nhưng thầy trò cụ Cử Tốn cũng rất khó xử: không tham chiến thì quân hùng chê cười, không bảo vệ được danh dự môn phái mà thượng đài thì không tránh khỏi cảnh đầu rơi máu chảy, ân oán giang hồ. Cụ Cử cùng các môn sinh suy nghĩ lung tâm, càng đến gần ngày hạn định lòng họ càng như lửa đốt. Cuối cùng, vỏ quýt dày đã gặp móng tay nhọn…

Hồi đó Bách thú Hà Nội có con hổ cụt đuôi khét tiếng hung dữ. Hôm thi đấu, trước sự chứng kiến của các quan chức thực dân và Nam triều một đệ tử chân truyền của cụ Cử Tốn đã vào chuồng cọp đực diễn lại tích Võ Tòng đả hổ. Mùi Đen tay không vào chuồng cọp đực, sau một hồi ác chiến đã đánh gục cọp đực, tóm gáy, bẻ chân đưa sang chuồng cọp cái và ngược lại. Những kẻ tưởng mình có mưu sâu kế hiểm đành bất lực, quần hùng ba xứ và Đông Dương thêm kính trọng cái nhân, cái trí, cái dũng của thầy trò cụ Cử Tốn.

Hậu duệ tài năng:

Người có cơ duyên với nghiệp võ ngay từ thời niên thiếu là võ sư Chưởng môn Nguyễn Văn Nhân. Ông thụ giáo môn Thiếu lâm gia truyền từ người ông nội là quan Thống binh của triều đình và võ cổ truyền từ ông ngoại – cụ Cử Tốn. Trước cách mạng tháng Tám ông là một thầy võ nổi tiếng vùng Lương Yên (Hà Nội). Năm 1944, ông tham gia cách mạng, gia nhập Thanh niên xung phong thành Hoàng Diệu. Tháng 8/1945, ông vào bộ đội phụ trách đại đội quân báo của Trung đoàn E41 ở Liên khu 3. Khi Hồ Chí Minh phát động Tuần lễ vàng, anh bộ đội 25 tuổi này đã biểu diễn những công năng đặc dị để quyên tiền giúp đồng bào. Trong hai cuộc kháng chiến, võ sư Văn Nhân làm công tác huấn luyện cho các đơn vị đặc biệt của Bộ Quốc phòng, Bộ Nội vụ. Ông cũng có vinh dự được làm công tác bảo vệ một số vị lãnh tụ của nhà nước.

Nước nhà thống nhất, do yêu cầu chung và phong trào phát triển của võ học nước nhà, lão võ sư đã tinh lọc và đúc kết nên một phương pháp rèn luyện võ thuật phù hợp với tính cách và thể tạng người Việt. Phương pháp đó dựa trên vốn liếng căn bản là tinh hoa võ thuật của dòng tộc cùng kinh nghiệm hàng chục năm ròng chiến đấu và huấn luyện võ thuật trong quân đội cũng như tiếp cận võ thuật hiện đại. Ông đã lấy tên Hà Nội cổ xưa để đặt tên cho môn phái của mình, đó là Thăng Long võ đạo.

Thăng Long võ đạo lấy Nhu – Hoà – Nhân – Trí làm gốc, suy tôn vị anh hùng dân tộc Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn làm Thánh tổ và lấy ngày 20/8 (âm lịch) làm ngày giỗ Tổ. Các bài bản được hệ thống hoá trên cơ sở khoa học có tính đến những kiến thức y, lý. Thăng Long võ đạo lấy Thiên Long bát bộ làm bộ pháp, Yêu tự xà hành làm thân pháp, Thôi sơn quyền làm thủ pháp, thuật cường thân được áp dụng để luyện nội lực. Trong thập bát ban binh khí, kiếm pháp của Thăng Long võ đạo là lợi hại nhất, thật không hổ danh là “Thăng Long đệ nhất kiếm pháp”. Ngoài quyền cước, môn sinh của Thăng Long võ đạo còn được truyền dạy và luyện tập tinh thông thập bát ban võ nghệ và các loại binh khí đặc dị của môn phái. Bên cạnh những bài quyền mang tính đối kháng cao, trong chương trình huấn luyện của Thăng Long võ đạo còn có những bài quyền dưỡng sinh chữa bệnhvà các phương pháp khí công nhập định nhằm tu dưỡng nhân cách.

Với chương trình huấn luyện có hệ thống, có mục tiêu rõ ràng, Thăng Long võ đạo đã nhanh chóng phát triển rộng rãi trên địa bàn cả nước cũng như ở nước ngoài. Dưới sự dạy dỗ của vị cố vấn Liên đoàn võ thuật cổ truyền Hà Nội, đồng thời là chưởng môn, cố vấn của các võ đường Thăng Long võ đạo Nguyễn Văn Nhân, các đệ tử của ông như: bác sĩ – võ sư Nguyễn Văn Thắng (con trai), các võ sư Bùi Hoàng Lân, Anh Tuấn… đã làm rạng danh môn phái bằng nhiều tấm huy chương cao quý gặt hái được từ các kỳ đại hội, hội diễn và thi đấu võ thuật cổ truyền tại thủ đô và toàn quốc. Họ cũng chính là những người đang tích cực truyền bá Thăng Long võ đạo đến với lớp thanh thiếu niên và những người hâm mộ võ thuật.

Nam Huỳnh Đạo:

Nam Huỳnh Đạo là môn phái mới thành lập vừa tròn ba năm và đã tạo nên một “hiện tượng” trong làng võ cổ truyền TP.HCM. Nam Huỳnh Đạo đã thu hút cả ngàn người theo tập ở mọi lứa tuổi và nhiều tầng lớp xã hội.

Có thể bắt gặp hàng trăm võ sinh “nhí” ở độ tuổi còn khóc nghêu ngao trong vòng tay mẹ, lạ chưa khi đến võ đường rất hăng say tập luyện, lại còn biết xưng hô phân biệt “huynh đệ” với nhau. Có cả những môn đồ đã bước vào giai đoạn “tứ thập nhi bất hoặc” của cuộc đời.

Người sáng lập Nam Huỳnh Đạo lại là võ sư Huỳnh Tuấn Kiệt, năm nay 36 tuổi.

Trong làng võ anh quả còn quá trẻ. Nhưng trong “nghề” anh đủ độ già dặn và chín muồi. Lên năm tuổi anh đã được cho học võ. Một người thân của anh kể hiếm thấy có ai ham thích võ như anh. Một ngày suốt năm, sáu tiếng tập và luyện công cứ thế liên tục cho đến tận ngày hôm nay.

Cơ thể của anh cho thấy những “ấn chứng” võ công kỳ diệu của một người khổ luyện theo một con đường đúng đắn: lưng qui, cổ rắn, tay hạc… Nhìn vóc dáng đồ sộ của anh, một cao thủ đã vỗ vai nói đùa: “Tập võ mà để cho thân hình to lớn, dềnh dàng như vậy là chưa đi tới đỉnh”. Thế nhưng khi cả hai vào cuộc so kình, với nội lực kinh người anh đã phát kình hất người bạn võ có khối lượng hơn 90kg này văng xa mấy thước.

Là hậu duệ đời thứ 7 của Tổng trấn Bắc thành Nguyễn Huỳnh Đức (tên thật là Huỳnh Tường Đức), Huỳnh Tuấn Kiệt được lựa chọn làm người kế thừa dòng võ Huỳnh gia vốn được lưu giữ nhiều đời trong tộc họ. Dòng họ Huỳnh nổi tiếng ở Long An không chỉ về sự giàu có mà còn về y võ và nho học.

Thân phụ của Kiệt là cụ Huỳnh Văn Khanh, người dịch bộ sách nổi tiếng Hoàng Hán y học của bác sĩ Thang Bản Cầu Chân (Nhật Bản). Tiến sĩ Huỳnh Quốc Thắng, người anh trai lớn trong nhà, có lần qua Trung Quốc đến “Đồng nhân đường Thái y viện” tại Bắc Kinh thấy bản dịch tiếng Việt của tác phẩm y học nói trên được trưng bày chung với nhiều bản dịch các thứ tiếng khác. Sự đóng góp của lương y Huỳnh Văn Khanh đối với ngành đông y được đánh giá rất cao.

Ông nội Huỳnh Văn Chánh ngày xưa ở quê nuôi nhiều người làm, trong đó có một số người Hoa giỏi võ. Cảm kích trước sự đối đãi, họ đã không ngần ngại đem tâm huyết và tinh hoa trao lại cho phái võ họ Huỳnh. Sự tiếp thu này đã dẫn đến sự dung hợp hai dòng võ.

Kế thừa và tiếp nối truyền thống, võ sư Huỳnh Tuấn Kiệt đã tiếp thu tinh hoa của nhiều dòng võ khác như Nội gia Thiếu Lâm, Hồng gia La Phù Sơn… và chính thức khai môn võ phái Nam Huỳnh Đạo. Võ sư Lê Kim Hòa, phó chủ tịch Liên đoàn Võ thuật cổ truyền VN, đánh giá: “Mặc dù mới chính thức danh xưng nhưng trước đó Nam Huỳnh Đạo đã có nhiều đóng góp cho chương trình chung của võ thuật cổ truyền thành phố, đào tạo được nhiều võ sinh có trình độ võ thuật và đạo đức.

Hoa Quyền:

Một tay cầm chiếc quạt kim loại uyển chuyển trong các thế công thủ; tay kia yểm tâm lúc trợ lực cùng đòn quạt, còn hai chân di chuyển tới lui vô cùng linh hoạt và bất thần nhún người nhảy lên tung cú đá song phi chớp nhoáng… Đó là những hình ảnh gây cho khán giả một ấn tượng đầy ngạc nhiên và thích thú về lão võ sư Hoàng Thanh Vân trong lần diện kiến.

Không ngạc nhiên và thích thú sao được khi một “cụ già” đã quá tuổi “thất thập cổ lai hi”, với vóc người dong dỏng cao và gầy, lại có khả năng diễn quyền vừa đẹp mắt vừa phát lực và còn thực hiện được cú đá song phi tuyệt vời nữa!

Sinh năm 1922 tại Hưng Yên, trong một gia đình có truyền thống thượng võ, cha của lão võ sư là ông Hoàng Văn Thơ vốn là nông dân nghèo phải đi làm thuê ở nhiều nơi vùng Bắc bộ để kiếm sống, nhờ đó mà ông đã có dịp học võ với nhiều thầy (người Việt, người Hoa) ở các vùng khác nhau. Đến khi ông truyền dạy sở học võ thuật của mình lại cho lão võ sư Hoàng Thanh Vân khoảng từ năm 1930 đến năm 1950, ông bảo rằng đó là võ thuật Hoa Quyền của dòng họ Hoàng. Lão võ sư cứ theo đó mà gọi môn phái của mình là Hoa Quyền suốt.

Môn phái Hoa Quyền có phần cơ bản công phu rèn luyện “thập hình” (thủ, nhãn, thân, yêu, túc, thức, đảm, khí, kình, thần) với quỹ thời gian khoảng 3 năm. Sau đó, môn sinh sẽ bắt đầu được truyền thụ 18 bài Hoa Quyền, cùng các loại binh khí như: kiếm, côn, đao, song ngư, lưỡng đầu thiết lĩnh, cửu khúc nhuyễn tiên, song phủ (búa), song chùy, thiết phiến (quạt), và các bài đối luyện có qui ước (tay không và vũ khí). Đặc biệt, trong vốn liếng sở học võ thuật của môn phái Hoa Quyền, lão võ sư còn cho biết có những bài võ truyền thống Việt Nam như: Ngọc trản, Lão mai, Thần đồng, Xung thiên đạo đao, Gươm trường thảo pháp và ba bài côn.

Trong phong trào võ thuật cổ truyền tại Hà Nội từ sau 1975, lão võ sư đã có những đóng góp nhất định trong việc đào tạo nhiều môn sinh giỏi, đạt những thành tích cao trong các giải võ cổ truyền tổ chức tại Hà Nội trong những năm qua. Bản thân lão võ sư cũng đã từng đoạt huy chương vàng trong một lần dự giải. Ngoài ra, năm 1990, lão võ sư đã được mời sang Cộng hòa liên bang Nga để truyền dạy võ thuật.

Hiện nay, mặc dù tuổi đã cao, nhưng lão võ sư Hoàng Thành Vân vẫn thường xuyên tập luyện cũng như truyền dạy cho các thế hệ trẻ tại nhà riêng của mình ở số 39, phố Quang Trung, gác 3, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.

Lâm Sơn Động:

Cụ tổ bảy đời là người văn võ kiêm toàn tại xứ Đoài – Hà Tây sau khi sinh con đời nọ đến đời kia đều kế thừa được các tinh hoa võ học.

Trải qua thời gian nối tiếp các thế hệ đã phát minh tìm hiểu thời cuộc của xã hội. Đặc biệt áp dụng võ học phương đông và đi sâu vào nghiên cứu khí công tới bậc uyên thâm. Đến đời thứ tư đã chắt lọc và đúc kết các môn luyện khí công như tĩnh công, động công, huyền công theo: trí, lực, năng tâm, thiện.

Những năm thánh đất nước còn đang dưới ách thống trị, phong trào truyền bá bị hạn chế. Ngoài con cháu trong dòng tộc đến đời thứ 5 hai cụ luyện võ cùng jnhâu từ nhỏ lớn lên được phép của thầy hai cụ đã xây dựng gia đình với nhau và sinh ra được 4 người con: 3 trai và một gái. Cụ ông đã qua đời năm 1944 người cốt lõi còn gửi lại được môn võ là cụ bà đó là bà Nội.

Những năm thánh đất nước còn đang dưới ách thống trị, phong trào truyền bá bị hạn chế. Ngoài con cháu trong dòng tộc đến đời thứ 5 hai cụ luyện võ cùng jnhâu từ nhỏ lớn lên được phép của thầy hai cụ đã xây dựng gia đình với nhau và sinh ra được 4 người con: 3 trai và một gái. Cụ ông đã qua đời năm 1944 người cốt lõi còn gửi lại được môn võ là cụ bà đó là bà Nội.

Do đất nước còn loạn lạc cụ không truyền được hết cho con đến năm 1966 thì con trai thứ ba của cụ đã sinh được người con thứ 5 đó là cháu Lương Ngọc Huỳnh tới năm 1969 cụ bắt đầu truyền bá đạo hạnh cho cháu nội từ thủa lên 3 đó là võ thuật và âm nhạc. Khi Ngọc Huỳnh ra đời cụ thường nói đây là đứa cháu duy nhất có thể kế thừa nghiệp võ mà cụ đang ấp ủ. Ngọc Huỳnh rất có tài tông minh chăm học và đến năm 1972 mới 6 tuổi Ngọc Huỳnh đã cùng cha mình với cây đàn bầu phục vụ khắp nơi nghê tin Ngọc Huỳnh có tài từ nhỏ phái đoàn chỉ huy mặt trận quân sự phía nam đan mời Ngọc Huỳnh cùng cha biểu diễn phục vụ Quốc Hội tại nhà hát lớn Hà Nội năm 1973 được bã Tôn Đức Thắng và bác trung tướng Vương Thừa Vũ và bác tướng Song Hào phong tặng danh hiệu nghệ sĩ tí hon và phát thanh cho cả hai miền đất nước nghe bài (Vì Miền Nam) tiêu chí quyết tâm của Ngọc Huỳnh lúc này thường mơ ước về sau phải được làm nghệ sĩ và võ sí và đã lôi nốt cậu em trai mình là Nguyên Ngọc Hải sinh năm 1969 cùng tập luyện dưới sự chỉ dẫn tận tuỵ của bà nội.

Tuổi bà nội mai mốt già đi và tạ thế năm 1982 trong một đêm mùa thu. Ngọc Huỳnh đã nắm được hầu hết những tinh tuý từ bà nội và đã tiếp tục sự nghiệp học hỏi và truyền thụ cho em trai là Ngọc hải, năm 1989 sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự Ngọc Huỳnh tiếp tục học hỏi y học và võ thuật nâng cao kiến thức được các đội công an xã, huyện, lân cận mời dạy võ và được sở TDTT Hà Tây mời làm công tác viên võ thuật lấy tên là võ thuật dân tộc Hà Tây. Sau khi đúc kết các tinh hoa môn phái Lâm Sơn Động bắt đầu ra đời ngày 23/9/1990 do võ sư Lương Ngọc Huỳnh sáng lập được sở TDTT cho phép truyền bá toàn tỉnh và các tỉnh lân cận, số võ sinh và số người theo học ngày càng đông lên tới hàng vạn tại các trung tâm TDTT các huyện thị.

Đến nay môn phái đã phát triển sang các nước như Nga, Mỹ, Pháp và có Tổ Đường tại thôn Dương Cốc xã Đồng Quang huyện Quốc Oai – tỉnh Hà Tây và Tự Đường tại Km9 đường 21A Xuân Mai – Sơn Tây do võ sư Nguyễn Ngọc Hải quyền trưởng môn phái điều hành và huấn luyện đào tạo.

Hóa Quyền Đạo – Phakwondo

Võ Phái Hóa Quyển Đạo là một môn phái khá đặc biệt do sự hình thành qua nhiều đời nghiên cứu và đúc kết .

I-Xin trình bày về ý nghĩa của tên võ phái Hoá Quyền Đạo PHAKWONDO

Hóa = sự biến hóa,sự tiến hoá,

Nói lên sự biến hóa của vũ trụ ,tiến hoá của xã hội,và sự hóa thành trong võ thuật ,mà sự tiến hóa đã trãi qua mọi thời đại cho đến nay .Để phù hợp với cuộc sống với sự kết nối tập trung hoá các yếu tố trên cơ bản nguyên lý, đến sự phát triển hoá của các yếu tố ,trong sự hoàn chỉnh khoa học hóa.đó là tôn chỉ của võ phái Hoá Quyền Đạo ,với các quan niệm trên ,với ý tưởng con người phải có sự hiểu biết thông minh, tính toán

Quyền = Quyền thuật ,quyền hành.

Quan niệm quyền thuật trong võ pháI Hóa Quyền Đạo là thuật pháp của quyền dựa trên các nguyên lý Dịch Lý biến hoá và vận hành theo sự quyền hành (ý) của võ sinh và võ sinh đó sẽ vận hành các kỷ năng của quyền pháp đuợc theo như ý.

Đạo = đạo lý,đạo hành .

Đạo là con đường dẩn dắt các hành giả đi tới mục đích của võ học

Với những ý nghĩa trên con đường của hành giả phải nắm bắt là tập trung hóa các nguyên lý võ học sau đó phát triển hoá các nguyên lý võ học đó ra và khoa học hoá hoàn chỉnh thực tế các quyền hành(là người hành giả phải tự triển khai quyền hành ,chứ không phải là người phải đi học thuộc lòng những nguyên lý võ học đó) vận dụng nguyên lý võ học đó.Với con đường phải hoàn chỉnh của võ học là Võ Công – Võ Thuật – Võ Chiến – Võ đạo .

Nền Tảng Nguyên Lý Của Võ Phái Hoá Quyền Đạo : Xin giới thiệu qua huy hiệu của Võ Phái :

-Bàn Tay biểu hiệu nắm Âm dương và Ngủ hành(năm ngón).

-Huy hiệu được trình bày biểu hiệu các ý đồ về Vô cực-Thái cực – Lưỡng Nghi – Tam Tài – Tứ Tượng – Lục Hợp – Thất Tinh – Bát Quái – Cửu cung.(Tập trung hoá-Phát triển hóa-Khoa học hoá)

-Hội các yếu tố trong Võ Học là : Võ Thuật-Võ Chiến-Võ Công-Võ Đạo.

-Vô Cực : là các vòng đão biến hóa vào các kỷ thuật hoán lực (đổi lực) ,biến hoá…

-Thái Cực : Vòng lưu xoắn ốc ứng dụng vào các kỷ thuật lưu …

-Âm dương : Âm dương là sự chuyển hóa của 2 mặt trong võ thuật như :cương nhu, phù trầm,khai hợp,tấn thối,hư thực ,trường đoản,nhanh chậm,trực hoành,công thủ v.v…

-Tam tài : Là phân ra làm 3 bực Thượng Hạ Trung ,hoặc là Thiên thời Địa lợi Nhân hòa .là kỷ thuật phối hợp của Thân Thủ Bộ,của Tam Quan …

-Tứ Tượng : là kỷ thuật căn bản của 1 động tác phân thành 4 kiểu…

-Ngũ hành : Là sức mạnh của Kim Mộc Thũy Hỏa Thổ tương ứng với :

Kim phế,mộc can,thũy thận,thổ tỳ,hoả tâm

Thần khí cốt lực tinh

Cương nhu dũng trí tịnh…

-Thất Tinh : là âm dương ngũ hành phối triển

-Bát Quái : là quẻ càn khãm cấn chấn tốn ly khôn đoài được biểu hiện qua tám vạch biểu hiện cho tám hướng

+Trong bát quái được phân ra bát hướng là:

-4 hướng chính (trên,dưới,trái,phải): là hướng thẳng là hướng cương

-4 hướng nghiên (xéo 4 hướng chính) : là hướng xéo là hướng nhu

-Cửu Cung : là 9 vùng phân định các cung vị ,để hoàn thiện các kỷ thuật

-Vạn Tượng : được phân hóa thành các bài Tượng Hình Ý Quyền theo trình độ kỷ thuật và biến hóa theo cãm giác riêng của mổi người..

-Lâm Ba : là tầm số ,chử số,hình số là kỷ thuật đặc biệt của Hóa Quyền Đạo do Sư Trưởng Đổ Phi Long sáng chế dựa theo nguyên tắc cửu cung bát quái và số học .Với quan niệm con người phải có kỷ thuật của con người trong võ thuật, phải tính toán trong võ thuật, thì mới là đặc tánh của con người có trí tuệ khôn ngoan.

Theo maxreading.com

Thông tin cần biết về côn nhị khúc

Thông tin cần biết về côn nhị khúc

Mặt khác, lịch sử võ thuật thế giới cũng đã ghi nhận công lao của Lý Tiểu Long trong việc giới thiệu hình ảnh côn nhị khúc trên phim ảnh. Có lẽ từ đó, côn nhị khúc đã trở thành một binh khí tập luyện phổ biến của những người yêu mến võ thuật cho đến ngày nay.

Thông tin cần biết về côn nhị khúc

Thông tin cần biết về côn nhị khúc

Côn nhị khúc hay Nunchaku (còn được gọi là côn ly tâm, lưỡng tiết côn) là một binh khí được phát sinh từ đảo Okinawa (hay còn gọi là đảo Xung Thằng) – một đảo nằm ở phía Nam Nhật Bản và cũng là quê hương của môn Karate-Do.

Đảo Okinawa đã luôn trải qua nhiều cuộc chiến đấu nội bộ giữa các bộ tộc bản địa. Năm 1429 vua Sho Hashi thống nhất các lãnh địa ở Okinawa và ban hành một đạo luật cấm đoán mọi việc mang vũ khí đối với tất cả mọi người, trừ quân cận vệ của nhà vua và các quan lại của triều đình nhằm loại trừ các mưu toan bạo động. Vậy là nhân dân Okinawa bị tước mất tất cả các loại vũ khí tự vệ và họ đã tìm cho mình một loại vũ khí mới là võ thuật “Kenbo’’ (tiền thân của Karate-Do sau này). Chưa hết, sang đầu thế kỷ thứ VII Okinawa lại bị Nhật Bản xâm lăng với một chính sách cai trị vô cùng khắc nghiệt, sưu cao thuế nặng. Từ đó đã có nhiều cuộc nổi dậy ở nhiều nơi để chống đối lại triều đình chuyên chế.

Nhà cầm quyền ban một đạo luật tịch thu toàn bộ các loại vũ khí trong nhân dân. Một chiến dịch được mệnh danh là “săn lùng kiếm” đã được tiến hành trên lãnh thổ Okinawa. Người dân, thậm chí là sư sãi cũng có thể bị hành hình do việc tàng trữ vũ khí, dù đó là một lưỡi dao cạo râu! Tất cả những lò rèn ở các làng xóm đều bị đóng cửa, và các công dụng gia đình bằng kim loại đều bị tịch thu. Mỗi làng chỉ có độc nhất một con dao được xích lại ở đầu làng, do lính Nhật canh giữ.

Côn nhị khúc được phát sinh từ thời gian này. Với cây kẹp lúa dùng trong nông nghiệp người dân đã cải tạo thành một binh khí tiện dụng và có thể cất giữ được trong người, có thể qua mắt được lính canh. Ngoài côn nhị khúc còn nhiều dụng cụ nông nghiệp khác cũng được người dân tập luyện & chuyển hóa như một binh khí để chiến đấu chống lại sự đàn áp của chính quyền phong kiến như: côn dùi (bo), liềm cắt lúa (kama), song quái (tonfa), kiếm ngắn (sai)….

Mặt khác, lịch sử võ thuật thế giới cũng đã ghi nhận công lao của Lý Tiểu Long trong việc giới thiệu hình ảnh côn nhị khúc trên phim ảnh. Có lẽ từ đó, côn nhị khúc đã trở thành một binh khí tập luyện phổ biến của những người yêu mến võ thuật cho đến ngày nay.

Vào khoảng tháng 8 năm 1985, môn sinh Lê Lý Thuận ở Tp.HCM đã nghiên cứu, sáng tạo và hệ thống các kỹ thuật côn nhị khúc thành chương trình đào tạo hoàn chỉnh, theo 3 bậc chuyên môn: sơ cấp, trung cấp & nâng cao. Trong những cố gắng hoàn thiện trên, nổi bật nhất là sự sáng tạo 04 kỹ thuật lăn cơ bản đã góp phần đưa côn nhị khúc từ một binh khí thông thường trở thành một môn nghệ thuật thể thao.

Theo maxreading.com

Thông tin cần biết về môn võ Thái – Krabi Krabong

Thông tin cần biết về môn võ Thái - Krabi Krabong

Ngày nay, tuy môn võ bắt nguồn từ truyền thống đó, nhưng không còn là những cuộc tử chiến như xưa nữa, mà chỉ là một phương thức tập luyện để rèn luyện cơ thể và tranh tài trong những dịp tổ chức các ngày lễ hay những cuộc tranh giải không mang tính chất sắt máu nữa. Đây là môn võ được Hoàng gia Thái thích thú và các sinh viên Đại học ưa chuộng.

Thông tin cần biết về môn võ Thái - Krabi Krabong

Thông tin cần biết về môn võ Thái – Krabi Krabong

Một môn võ đầy hào hứng và sôi nổi của Thái Lan mà hiện nay rất đuợc nhiều người ưa chuộng đã bắt nguồn từ cuộc thi đấu có tính cách truyền thống từ ngàn xưa của miền đất này là môn võ KRABI KRABONG chuyên sử dụng kiếm và gậy.

Ngay từ ngàn xưa ở Xiêm(Thái Lan) người ta đã rất hâm mộ những màn quyết đấu đầy sắt máu thường tổ chức trong dịp lễ lạt hay những cuộc tranh tài để giành địa vị mà nhiều khi đưa đến tử vong. Những trận đấu thường diễn ra giữa hai đối thủ gặp nhau tại một khu đất rộng, phẳng phiu và mang một ý nghĩa có tính truyền thống : Người thắng cuộc bảo vệ được quyền lực của mình và giành lấy những lãnh địa cho riêng mình. Trong trận đấu, hai đối thủ thường là những người trong giới quý tộc, khi tranh đấu thường đứng thẳng biểu dương sức mạnh của Hoàng triều, sẵn sàng chiến đấu để bảo vệ danh dự và uy tín của mình. Người ta có thể hy sinh cả uy quyền và giàu sang của mình cũng chỉ vì một trận đấu, vì kẻ chiến thắng sẽ được chiếm giữ luôn cả lãnh địa của người chiến bại. Người chiến bại chẳng những mất hết đất đai, quyền hành mà còn trở thành nô lệ của người thắng cuộc. Trong tinh thần đó thì các trận đấu đã diễn ra một cách ác liệt, mang tính cách sắt máu, và có thể đi đến chỗ tử vong.

Ngày nay, tuy môn võ bắt nguồn từ truyền thống đó, nhưng không còn là những cuộc tử chiến như xưa nữa, mà chỉ là một phương thức tập luyện để rèn luyện cơ thể và tranh tài trong những dịp tổ chức các ngày lễ hay những cuộc tranh giải không mang tính chất sắt máu nữa. Đây là môn võ được Hoàng gia Thái thích thú và các sinh viên Đại học ưa chuộng.

Những động tác đặc biệt

Theo truyền thống, đấu thủ mang trên trán một sợi dây bùa Mongkou để trừ tà ma, trên tay là một thanh kiếm hoặc một gậy gỗ sẵn sàng quyết đấu. Khi trận đấu bắt đầu, các đấu thủ bước tới bước lui theo những thế uyển chuyển và dồn dập khiến cho mồ hôi đổ ra thấm ướt cả bộ võ phục. Võ phục có màu huyết dụ, tượng trưng cho sức mạnh hào hùng. Sau những thế bước uyển chuyển để giành ưu thế, các binh khí bắt đầu chạm nhau, và trong những cuộc đấu xưa kia thì nó có thể gây thương tích cho đối thủ và làm đối thủ ngã gục. Ngày nay thì những trận thi đấu giữa hai đối thủ của môn võ Krabi Krabong được tính điểm do những động tác đụng chạm vũ khí vào người nhưng không được gây thương tích cho đối thủ, tuy không đem đến sự thương vong nhưng cũng rất hào hứng.

Tiếng trống cổ vũ

Các trận đấu ngày nay thường tổ chức trên các sàn gỗ đánh bóng, chung quanh là khung cảnh thiên nhiên với những tàn cây xanh khiến cho đấu trường mang một vẻ vừa thanh thoát vừa huyền bí, chung quanh là khán giả ngồi xem.

Hai đối thủ cầm kiếm hoặc cầm gậy trên tay, đứng vào hai góc đối diện nhau và cách nhau từ 3 đến 6 thước. Trước tiên, theo đúng nghi lễ, một đối thủ đặt võ khí xuống bên cạnh mình rồi cúi thấp đầu trong tư thế Wai-Khrus để tỏ lòng tôn kính đối với Tổ sư và để chào. Trong khi đó thì đấu thủ kia, mang thắt lưng xanh vàng, đưa tay lên cao di chuyển nhẹ nhàng vào thế bái Tổ Khun-Prom. Đây là vũ điệu tạ ơn của môn phái, trực thân công hãm chống lại kẻ thù tưởng tượng. Sau đó tiếng sáo được thổi lên nhè nhẹ, réo rắt theo từng điệu bộ của các đấu thủ, và trận đấu bắt đầu. Các đấu thủ di chuyển nhanh hơn vào các thế võ, mỗi người đều cố gắng biểu dương tuyệt kỹ của mình. Bốn bàn chân nhịp nhàng theo tiếng trống cổ vũ đang giục giã liên hồi làm rung động cả đấu trường. Hai võ sĩ bổng nhiên trở thành hai vũ sư biểu diễn một màn vũ dân tộc độc đáo trong cuộc tranh đấu.

Những thanh kiếm hoặc những cây gậy trong tay hai đấu thủ được sử dụng nhuần nhuyễn mau lẹ và đan vào nhau trong tư thế mạng nhện Dern-Plaeng.

Có khi một đấu thủ giả vờ thất thế để cho đối thủ của mình vây chặt rồi bất ngờ xoay người trở lại và phản công.

Tiếng nhạc, tiếng trống vẫn luôn luôn vây quanh hai đấu thủ trong khi đôi chân của họ uyển chuyển trong các thế đi của môn võ. Một đối thủ có thể mở thế công, vung kiếm chém xả vào đối phương, nhưng cũng có thể lui vào thế thủ để đỡ ngọn cước hiểm độc của đối thủ vừa tung ra.

Bỗng nhiên một đấu thủ giành được ưu thế, đưa lưỡi kiếm thọc mạnh vào tay đối thủ, cố gắng dồn đối phương vào thế chịu trận trong khi tiếng trống cổ võ càng thúc giục mạnh hơn. Trong trường hợp này, đối thủ có thể thúc thủ chịu thua, nhưng cũng có thể phản ứng lại, đánh bạt được ngón đòn đó và nắm lấy cổ tay người áp chế mình, quật ngược thế cờ, vung kiếm chém lại. Người kia chỉ có cách quay mình về phía sau và nằm xuống sàn để tránh kiếm vừa chém xuống.

Tiếng trống dồn dập cổ võ cho người thắng cuộc. Người thua cuộc hô to “Pae” trong khi người thắng cuộc hô “Channa”.

Khả năng an toàn khi thi đấu

Không giới hạn thời gian, trận đấu Krabi Krabong quả thật đã thử thách sức chịu đựng dẻo dai của các đấu thủ. Trận đấu chỉ kết thúc khi nào kẻ bại trận thật sự quy phục đối phương của mình.

Không như những thế kỷ trước đây, khi mà danh dự, uy thế và giá trị của hai lãnh địa còn đè nặng trên đôi vai các nhà quý tộc, ngày nay các đấu thủ của môn võ Krabi Krabong phải chứng tỏ khả năng vượt bực của họ bằng cách biểu dương sức chịu đựng và kỹ thuật chiến đấu tuyệt diệu của mình. Từ khi các đấu thủ được trang bị những dụng cụ phòng thân thì việc đổ máu bị thương tích không còn xảy ra nữa, có chăng chỉ là sự va chạm đau đớn hoặc rách quần áo mà thôi. Đôi khi các đấu thủ bị chịu sự đau đớn do các vết thương nơi cổ tay, cổ chân hoặc bị quặp ngón tay cái, có khi bị chảy máu mũi, nhưng không đi đến trầm trọng hoặc tử vong được.

Võ Krabi Krabong có từ bao giờ ?

Lịch sử của Krabi Krabong hết sức mơ hồ. Người ta có thể tin rằng khoảng 500 năm về trước, môn võ này đã được dùng để huấn luyện cho binh sĩ trong quân đội. Người ta cũng kể rằng những chiến sĩ rỗi rảnh trong thời binh đã sáng lập ra môn võ này để thử sức chịu đựng dẻo dai, thử tài xông trận, và tinh thần chiến đấu của ba quân.

Ngày nay, môn võ Krabi Krabong sử dụng tất cả 6 loại binh khí : Kiếm công Krabi (miền Tây Thái), gươm thép Daab, xích búa (dài 2 thước), côn gỗ (dài 1m8), đôi song gỗ (dài 0m45) và khiên da (đủ cỡ).

Krabi Krabong là môn võ có tới 400 ngón đòn kỹ thuật sử dụng với các loại vũ khí khác nhau, tùy theo từng trận đấu. Một người muốn thâu thập được hết các ngón đòn căn bản cũng phải trải qua một thời gian học hỏi là 5 năm. Số võ sinh học được cách sử dụng một hay vài vũ khí cũng rất ít vì Krabi Krabong đòi hỏi thời gian khổ luyện khá công phu và lâu dài.

Lúc biểu diễn trước mắt hàng trăm, hàng ngàn khán giả, người chuyên môn thường mang theo ít nhất ba loại vũ khí. Phần lớn những vũ khí đó là những đồ cổ đắt giá, thường chỉ được đem ra lúc biểu diễn mà thôi. Loại vũ khí được chế tạo theo kiểu ấy thường rất phức tạp và hào nhoáng chỉ thích hợp với những buổi biểu diễn võ thuật mang tính cách lễ nghi. Còn loại vũ khí dùng để chiến đấu hoặc huấn luyện thì thường được làm bằng gỗ, bằng tre hay bằng mây.

Môn võ của giới trí thức

Ngày nay, các võ sư Krabi Krabong được mời vào huấn luyện cho Hoàng gia Thái lan và các trường Đại học hoặc Trung học. Các trường Đại học Thái thường vẫn tự hào về đội võ Krabi Krabong của mình. Ngay như Đại học Vật Lý, Giáo Dục ở Bangkok chỉ chuyên về khoa học kỹ thuật cũng rất ưa chuộng môn võ này.

Tại các viện Đại học, các sinh viên vẫn ganh đua nhau trong những lần biểu diễn. Nghi thức mở đầu trận đấu hào hùng trong các cuộc ganh đua hay biểu diễn đã diễn tả được sức sống mãnh liệt của con người. Các học sinh, sinh viên mặc những võ phục có màu sắc thay đổi tùy theo trường, rập khuôn theo tập quán và truyền thống sẵn có.

Hiện nay các trận đấu được quy định trong giới hạn từ 3(?) tới 5 phút cho mỗi hiệp đấu đối với nam đấu thủ. Còn với các nữ đấu thủ thì trận đấu chỉ được kéo dài tối đa 3 phút cho mỗi hiệp.

Bất cứ nơi nào trên thân thể cũng có thể bị tấn công. Chỉ trừ những trận đấu giao hữu, kẻ nào phạm luật cấm tức là “lăng nhục trận đấu”. Vì vậy, tự vệ bằng cách sử dụng ngón hậu cước hoặc thế võ quyền anh lúc đấu thủ bị rơi kiếm là chuyện ít khi xảy ra. Đấu thủ nào vi phạm các điều luật đã quy định cho trận đấu sẽ bị trừ 1 điểm. Do đó đấu thủ nào ít lỗi nhất, đạt được những cú đánh đẹp sẽ là người thắng cuộc, chứ không như ngày xưa, phải đợi đấu thủ gục ngã, qui hàng thì mới được gọi là thắng cuộc.

Qua môn võ Krabi Krabong, người Thái đã thể hiện được lòng say mê mãnh liệt đối với thiên nhiên. Chính những sôi nổi mang tính cách đặc thù của môn võ này luôn luôn nung nấu trong lòng người dân Thái. Đó cũng là niềm hãnh diện của dân tộc Thái vậy.

Theo maxreading.com

Thông tin cần biết về Jujitsu – Môn võ tinh hoa

Thông tin cần biết về Jujitsu - Môn võ tinh hoa

Mặc dù nguồn gốc đích thực của môn Jujistu không rõ ràng, và không có một ngày tháng nào nhất định được chứng minh là ngày đầu tiên xuất hiện của môn võ, nhưng chắc chắn đó là một môn võ thuần túy Nhật Bản và hoàn toàn không có chuyện xuất phát từ Trung Hoa như một số người đã tưởng.

Thông tin cần biết về Jujitsu - Môn võ tinh hoa

Thông tin cần biết về Jujitsu – Môn võ tinh hoa

Vào thời đại phong kiến, nhiều ngành võ thuật chiến đấu thịnh hành trong giới Samurai ở Nhật, chẳng hạn Cung đạo, Kiếm đạo, thuật cưỡi ngựa, cách dùng giáo mác và những món binh khí khác. Những ngành võ thuật này không nhiều thì ít cũng đã quen thuộc đối với các nước Tây phương, được người Tây phương tập luyện và sử dụng rất tinh phục, tuy rằng phương pháp và hình thức không giống hẳn ở Nhật. Nhưng sự khéo léo đặc biệt đạt thắng lợi bằng cách khuất phục trước sức mạnh của địch thủ thì thật là môn võ đặc thù của Nhật Bản, không hề có một môn võ nào tương tự như thế ở Tây phương được biết đến, hay ít nhất được người ta tập luyện và sử dụng.

Dù người ta có để ý khảo cứu các ngành võ thuật thời xưa ở Âu Châu và tìm một điểm tương đồng với môn Jujitsu Nhật Bản, cũng không thể nào tìm thấy. Có người nói rằng môn đánh vật có thể đem so sánh với môn Jujitsu, nhưng hai môn thật ra khác nhau một trời một vực ; môn đánh vật nhắm chiến thắng địch thủ bằng sức mạnh của chính mình trong khi Jujitsu chiến thắng bằng cách khuất phục trước sức mạnh của địch thủ. Thật vậy, chữ Jujitsu có nghĩa là Nhu thuật, dùng sự khéo léo, uyển chuyển, dịu dàng của cơ thể để chế ngự sức mạnh. Jujitsu là cái tên được biết nhiều nhất ở Nhật để nói đến môn võ ấy, tuy nhiên những tên khác như Yawura, Taijitsu, Hakuda, Kogusoku, Torite và bao nhiêu tên khác đôi khi cũng được dùng để chỉ những ngành võ thuật tương tự.

KHÔNG PHẢI VÕ TRUNG HOA

Mặc dù nguồn gốc đích thực của môn Jujistu không rõ ràng, và không có một ngày tháng nào nhất định được chứng minh là ngày đầu tiên xuất hiện của môn võ, nhưng chắc chắn đó là một môn võ thuần túy Nhật Bản và hoàn toàn không có chuyện xuất phát từ Trung Hoa như một số người đã tưởng. Biết bao nhiêu người, ngay cả một vài người thận trọng, cũng đã cho rằng một nhà sư Trung Hoa, tên là Trần Nguyên Tán, mang môn Kempo, môn “đá và đánh” tới Nhật Bản dạy cho ba chàng Hiệp sĩ lang thang tên là Fukuno, Isogai, và Miura. Những người này, sau khi chính mình nghiên cứu kỹ lưỡng, lập ra ba chi phái Jujitsu độc lập với nhau. Thật ra, cũng có nhà sư Trung Hoa nói trên trốn thoát những hỗn loạn xảy ra vào cuối triều Minh bên Trung Hoa đã đến Nhật khoảng năm 1659 (năm thứ hai đời Manji), năm triều đại này kết thúc. Trần Nguyên Tán nổi tiếng mấy năm ở tỉnh Owari nơi ông thường làm thơ với một nhà thơ người Nhật, rồi qua đời năm 1671 (năm thứ 11 đời Kanbun), cùng trong tỉnh đó. Mộ thạch của ông nằm trong nghĩa địa Kenchuj tại Nagoya. Không có gì chắc chắn là ông biết ít nhiều về môn Kempo và kích thích sự tiến bộ của môn Jujitsu Nhật Bản. Lại càng hoàn toàn không thể tin được rằng ông là người đầu tiên đem môn Jujitsu vào Nhật Bản, bởi vì môn Kempo của Trung Hoa, được người ta nói là do ông du nhập, hoàn toàn khác biệt với môn Jujitsu Nhật Bản và bởi vì một vài môn giống môn Jujitsu có thể tìm thấy ở Nhật trước thời Trần Nguyên Tán. Hơn nữa, có thể vì nền văn minh Trung Hoa lúc bấy giờ được ưa chuộng như nền văn minh Tây phương ngày nay, cho nên nguồn gốc của môn Jujitsu được gán cho Trung Hoa với mục đích dễ phổ biến trong quần chúng. Ta có thể thấy nhiều trường hợp tương tự trong những môn võ và những sáng tạo khác cũng bị gán cho cái nguồn gốc Trung Hoa, mặc dù chúng hoàn toàn của Nhật Bản trong sự phát sinh cùng phát triển.

Các sách vở có liên quan đến lịch sử môn Jujitsu rất hiếm và không xác thực. Mặc dầu có nhiều bản thảo của các chi phái khác nhau của môn võ, chúng bị các võ sư dấu kín và chỉ cho các môn sinh có trình độ đặc biệt cao xem mà thôi với lời thề sẽ không bao giờ tiết lộ những điều ghi chép trong đó. Những thủ bản ấy không giá trị lắm như người ta thường tưởng, bởi vì chúng thường mâu thuẫn nhau và nhiều khi lố bịch nữa dù rằng khảo cứu chúng kỹ lưỡng đem lại rất nhiều thích thú và làm sáng tỏ phần nào lịch sử môn võ. Hiện giờ, người ta không thể kể hết các chi phái (Ryu) của môn Jujitsu, và chỉ có thể đề cập đến một ít chi phái được coi là siêu việt nhất. Trong số một trăm chi phái ra đời, phái cổ nhất là Taken Ouchi Riu, có người nói rằng do Takenou Hisamori, một người ở Sakushu, sáng lập năm 1532 (năm đầu triều đại Tenbun). Mặc dù con số này không đáng tin cậy lắm và mặc dù chi phái này dạy môn Kogusoku, hay là thuật dùng tay bắt lấy địch thủ, có đôi phần khác biệt với môn Jujitsu thuần chất, người ta cũng không thể nghi ngờ về điểm nó được thiết lập một thời gian trước khi Trần Nguyên Tán đến Nhật và nó có thể được xem như chi phái đầu tiên dạy một môn võ tương tự môn Jujitsu.

Tiếp đến là một chi phái gọi là Kito-Ryu, do ông Fukuno Shichiro-Emon, quê quán ở Tamba, sáng lập vào khoảng giữa thế kỷ 17 (Kanyei). Liên quan mật thiết với chi phái này là chi phái Jikishin Ryu, sáng Tổ là ông Terada Kan Emon, quê ở Unshu, người đồng thời với Fukuno. Có nhiều mâu thuẫn về sự liên hệ giữa hai người này. Một vài bản thảo viết rằng Fukuno là sư phụ của Terada, trong khi những tài liệu khác bảo ngược lại. Mặc dù không thể quyết định về điểm mâu thuẫn này, chúng ta cũng có thể quả quyết rằng cả hai người, Fukuno và Terada, sống vào giữa thế kỷ 17, có liên hệ mật thiết với nhau, và đã lập ra hai chi phái Jujitsu khác biệt, mấy năm trước thời Trần Nguyên Tán. Có thể họ đã thấy và nghe nhà sư này, và nhờ đó biết ít nhiều về môn Kempo của Trung Hoa. Dù sao đi nữa, hai phái này vẫn được coi là những chi phái cổ nhất của môn Jujitsu chính thống. Chi phái Kiushin Ryu được thiết lập bởi InugamiNagakatsu, quê ở Omi. Mặc dù thời gian sáng lập của nó không mấy chắc chắn, nhưng có một vài lý do khiến ta tin rằng chi phái ấy lại là một nhánh của chi phái Kito Ryu nói trên. Inugami Gunpei, cháu của vị sáng Tổ, công phu trác tuyệt đến nỗi ông thường được xem là vị sáng Tổ đích thực của môn phái này. Chi phái Sekiguchi Ryu, do Sekiguchi Jushin thiết lập, và chi phái Shibukawa Ryu, do Shibukawa Bangoro, là hai chi phái nổi tiếng khác. Hai chi phái cũng có liên hệ với nhau vì vị sáng Tổ của hai phái sau thụ giáo người con của vị sáng Tổ hai phái trước. Đời thứ chín của chi phái này và đời thứ tám của chi phái kia hiện nay dạy Jujitsu tại Đông Kinh.

Nagakatsu, quê ở Omi. Mặc dù thời gian sáng lập của nó không mấy chắc chắn, nhưng có một vài lý do khiến ta tin rằng chi phái ấy lại là một nhánh của chi phái Kito Ryu nói trên. Inugami Gunpei, cháu của vị sáng Tổ, công phu trác tuyệt đến nỗi ông thường được xem là vị sáng Tổ đích thực của môn phái này. Chi phái Sekiguchi Ryu, do Sekiguchi Jushin thiết lập, và chi phái Shibukawa Ryu, do Shibukawa Bangoro, là hai chi phái nổi tiếng khác. Hai chi phái cũng có liên hệ với nhau vì vị sáng Tổ của hai phái sau thụ giáo người con của vị sáng Tổ hai phái trước. Đời thứ chín của chi phái này và đời thứ tám của chi phái kia hiện nay dạy Jujitsu tại Đông Kinh.

– Các đòn thế của môn Jujitsu nói chung thường rất hiểm ác, những đòn tấn công hoặc phản công quyết nhắm đến việc giết địch thủ trong nháy mắc, hoặc làm gãy tay, gãy chân, đui mù, á khẩu, tê liệt tàn phế cả cuộc đời. Một số các đòn của Jujitsu thật ra cũng bắt nguồn từ các môn quyền thuật Trung Hoa, Thiếu Lâm, Võ Đang và Thái CựcQuyền.

– Jujitsu – Nhu thuật – gồm những loại đòn ném, vật, khóa chân, khóa tay, khóa cổ, siết họng và các đòn về quan tiết (các khớp xương).

Tất cả những đòn này đều căn cứ trên hai nguyên lý sau đây:

1. Nhượng bộ sức mạnh để thắng sức mạnh bằng cách lợi dụng đòn của đối phương.

2. Tạo cho địch cái thế mất thăng bằng để quật ngã địch.

ĐIỂM HUYỆT

Trong môn Jujitsu còn có cả nghệ thuật điểm huyệt. Điểm huyệt tức là dùng những món binh khí tự nhiên trong thân người đã được tập luyện cho cứng rắn (đầu ngón tay, ngón tay quỉ, ngón chân v.v…) đánh mạnh, sâu, các điểm nhỏ li ti liên lạc với hệ thống thần kinh toàn thân, gây ra những chấn động nguy hại cho bộ phận trọng yếu nào đó trong tạng phủ.

Môn điểm huyệt thật ra do người Trung Hoa tìm ra trước tiên. Quyển kỳ thư đầu tiên và cổ xưa cách đây hơn 4000 năm tên là “Hoàng đế nội kinh” đã có vẽ đồ hình và nói về các huyệt đạo trong thân thể con người. Tất cả có 108 huyệt đạo, chia làm ba loại : tử huyệt, ma huyệt và sanh huyệt. Tử huyệt phân phối nơi các điểm nhược trong thân người. Khi tử huyệt bị các ngón tay qua nhiều công phu tập luyện điểm trúng, con người có thể chết ngay tức khắc hoặc trong một thời gian nào đó.

Người xưa còn tìm biết một huyệt mà điểm vào nạn nhân có thể bị á khẩu vì dương khí từ đốc mạch lên óc bị bế tắc, gọi là á huyệt. Những huyệt đạo quan trọng nhất có thể nguy hại đến tánh mạng con người phần lớn tập trung ở đầu, ngực và xương sống. Tuy nhiên ngay ở bàn tay và chân cũng có tử huyệt, nghĩa là huyệt có thể làm chết người khi bị điểm trúng, ví dụ các huyệt Dũng Tuyền giữa bàn chân, huyệt Lao Công ở lòng bàn tay.

Ma huyệt là những huyệt khi điểm trúng sẽ làm cho tê bại, hoặc bất tỉnh nhân sự nhưng không chết. Những huyệt này ở nhiều nơi trong thân thể, đặc biệt là ở các đầu xương tay, chân, vai. Nhưng võ sư Jujitsu hoặc những võ sinh cao cấp đều tinh thục những cách cứu người bất tỉnh vì trúng đòn. Các nhà võ thuật xưa hễ có học điểm huyệt, tất có học những phương pháp dùng tay không hoặc dùng thuốc để cứu trị tức khắc.

ĐÁNH VÀO CÁC QUAN TIẾT

Quan tiết là các khớp xương. Những nơi có hai khớp xương nối vào nhau. Cũng như Thái Cực Quyền của Trung hoa và môn Aikido (Hiệp Khí Đạo) của Nhật bản, môn Jujitsu cũng chú trọng đến các loại đòn này. Trong thân thể con người, những chỗ “yếu” nhất là các ngón tay, cổ, hai bàn chân, các khớp xương cánh chỏ, vai và đầu gối. Đánh vào quan tiết tức là vặn, bẻ những khớp xương yếu nhất trong thân người. Vì vậy, một thiếu nữ yếu đuối cũng có thể chế ngự được một lực sĩ hay một tên lưu manh cường bạo, nếu thiếu nữ biết cách vặn một bàn tay, bẻ một ngón tay chẳng hạn. Môn Jujitsu nghiên cứu môn đánh vào các quan tiết một cách rất tinh vi. Sau có một võ sĩ vạch hẳn phương pháp vặn bẻ các khớp xương ra làm một môn phái, một kỹ thuật chiến đấu dành riêng cho kẻ yếu đuối học tập để tự vệ chống lại cường lực, gọi là Yamara.

CẦM NÃ THỦ

Một “ngón nghề” khác của phái Jujitsu là môn cầm nã thủ. Cầm là bắt, giữ. Nã là bấm, cấu, véo.

Những chỗ nhược có thể bấm, cấu, véo được là bắp thịt con chuột ở cánh tay, chỗ lắc léo giữa cánh chỏ. Lưng bàn tay cũng có thể nã được một cách hiệu quả. Các võ sĩ muốn sử dụng môn cầm nã phải luyện các ngón tay cho thật sắt thép, bằng phương pháp gọi là phục hổ công : dùng năm đầu ngón tay và đầu ngón chân chịu đựng toàn thân, nằm úp trên mặt đất, hai cánh tay co lại, dãn ra theo thế hít đất, ngày nào cũng luyện như thế. Lâu ngày, các đầu ngón tay sẽ có đủ gân lực và cứng cáp để áp dụng môn cầm nã.

HẬU THÂN CỦA JUJITSU

Như trên đã nói, có biết bao chi phái Jujitsu lớn mạnh vào thời đại phong kiến, nhất là vào thời Iyemitsu, vị thứ ba và mạnh nhất trong các vị Tướng quân Tokugawa. Môn võ tiếp tục bành trướng trong các tỉnh. Cho đến hậu bán thế kỷ 19, nó bắt đầu suy yếu đôi chút với sự sụp đổ sắp đến của chế độ phong kiến. Mặc dù có lần môn võ đã được phục hồi và có ảnh hưởng sâu xa đối với tinh thần quốc gia của người Nhật, nó dần dần bị người đời xao lãng.

Một người theo Tây học, ông Jigoro Kano, vốn xuất thân từ trường Đại học Đông Kinh đã đứng ra tiếp nối sự nghiệp của các vị tiền nhân. Ban đầu, ông theo học phái Tenjin Shiyo Ryu, sau đó, phái Kito Ryu. Sau khi đã trở nên bậc thầy trong các chi phái này, ông tìm tòi nghiên cứu, so sánh và học hỏi thêm mọi chi phái khác và cuối cùng sáng lập ra một chi phái mới gọi là Kano Ryu, hay là môn Judo Kodokan. Chữ Judo (Nhu đạo) thật ra không phải là một chữ mới. Nó đã được một trong các chi phái cổ dùng rồi. Chi phái Kano dùng danh từ này thay vì chữ Jujitsu bởi vì nó được học hỏi không chỉ như là một sự tập luyện thể xác, mà còn là một phương pháp rèn luyện đạo đức và trí tuệ. Vị sáng Tổ Jigono Kano vì muốn biến môn Jujitsu thành một môn thể dục có tính cách đại chúng và dân tộc nên đã gạt bỏ nhiều đòn nguy hiểm trong Jujitsu.

Ngày nay môn Judo lan tràn khắp thế giới, không đâu không có võ đường, không xa xôi hẻo lánh nào không có những môn sinh tận tụy của môn phái.

Tuy nhiên trên phương diện tự vệ và chiến đấu, môn Judo chưa hẳn thật sự có giá trị bằng môn Jujitsu, vì môn Jujitsu vẫn giữ nguyên toàn bộ sự hiệu quả của nó, còn môn Judo đã trở thành một môn thể thao biểu diễn, bị hạn chế bởi các qui luật chặt chẽ.

Vì vậy mà trong quân đội cảnh sát các nước, người ta dạy Jujitsu chứ không hẳn là Judo. Lẽ tất nhiên, những ai muốn học võ để tự vệ và chiến đấu cần phải biết Jujitsu có cả vừa Judo, vừa Karate (Không thủ đạo), vừa Aikido (Hiệp khí đạo) và cả môn điểm huyệt nữa.

Biết và thành thạo Jujitsu, bạn có thể áp dụng trong mọi trường hợp tự vệ nguy cấp, dù chiến đấu với một hay đông người, đồng thời Jujitsu còn là một môn thể dục đầy đủ hơn tất cả các môn võ khác, vì Jujitsu gồm đủ tinh hoa của tất cả các võ phái Đông phương vậy.

Sau đây là câu chuyện được truyền tụng trong dân gian liên quan đến các vị võ sư Jujitsu ngày xưa.

Trong tỉnh Unshu, có một gia tộc tên là Inouy là những vị võ sư cha truyền con nối của phái Jikishin và trong thời phong kiến họ thường nhận một số bổng lộc do một vị Hoàng thân trao tặng để thưởng công huấn luyện cho các chàng Samurai trẻ tuổi. Gặp thời người trưởng tộc không được cao cường lắm trong môn võ của mình, mặc dù ông được xem là vị võ sư vì cha truyền con nối như vậy. Cũng vào thời đó, có một vị triều thần mạnh mẽ vô cùng. Người ta nói rằng ông có thể dùng tay bóp nát một cây tre già. Một hôm kia, khi Inouye đến yết kiến vị Hoàng thân, vị này ra lệnh ông phải thử sức với vị triều thần. Vị triều thần từ đằng sau ôm ngực Inouye với tất cả sức lực của mình. Thương thay cho Inouye, vì không giỏi võ cho nên không chịu nổi sức lực vũ bão của đối thủ, tái mặt rồi chết giấc. Vị Hoàng thân tức giận vô cùng, tính bỏ đi, nghĩ rằng từ nay thôi cắt phần bổng lộc. Một người học trò của Inouye, tên là Tsuchiya, giỏi về Jujitsu hơn, thấy tình thế nguy hiểm cho vị thầy già của mình, níu áo vị Hoàng thân và thưa rằng : “Xin ngài nán lại một chút. Thầy tôi, ông Inouye, hôm nay không được khỏe trong người, nên tôi mong Ngài cho tôi được thay thế thầy tỷ thí với vị triều thần”.

Vị Hoàng thân bằng lòng, ra lệnh cho hai người giao đấu. Vị triều thần lại ôm người môn sinh y như đã ôm ông thầy. Tsuchiya hỏi: “Sức lực của ông chỉ có thế?”. Sau câu hỏi đó, vị triều thần trả lời bằng cách ôm chặt hơn. Tsuchiya lặp lại câu hỏi. Vị triều thần nới lỏng một chút rồi lại ôm chặt hơn nữa. Trong chớp mắt, Tsuchiya cúi người xuống, nắm lấy cổ áo của địch thủ, quăng ông ta xuống đất, qua vai mình. Bởi thế, thay vì bị khiển trách, vị thầy, Inouye, được vị Hoàng thân nhiệt liệt khen thưởng về võ công của người môn sinh…

Trong thời Cách mạng vừa qua, ở Đông Kinh có một vị võ sư Jujitsu đã đứng tuổi. Dù đã già, ông vẫn là một cao thủ trong môn võ của mình. Dân chúng lúc ấy thường đồn đại rằng mỗi tối, trên một con đường ngoài ngoại ô, một người đã quật ngã mọi kẻ qua đường. Công việc ấy thật có vẻ ác tâm, nhưng võ nghệ của người ấy rJuất cao. Tin đồn tới tai vị võ sư. Với ý định trừng phạt con người ác độc đó, dù hắn là ai cũng mặc, vị võ sư một đêm kia cải trang làm khách bộ hành đến tận nơi. Bất ngờ ông bị ôm từ đằng sau và thiếu chút nữa là bị quật ngã. Nhanh như chớp, ông rùn người xuống, thoát khỏi hai cánh tay kẻ thù, thúc cùi chỏ vào dạ dày hắn. Thấy kẻ thù ngã xuống chết. Ông lặng lẽ bỏ về nhà, không ai trông thấy. Sáng hôm sau, một người học trò đến gặp ông, đau buồn và hối hận kể lại chuyện sau đây:

“Đêm đêm con thường quật ngã khách bộ hành ở ngoại ô để thử sức. Tối qua, con cũng đứng ở đó như thường lệ; thấy một ông già nghiêng ngả đi lại, con ôm sau lưng ông ta và cố sức quật ông ta xuống. Nhưng con bị ông ta thúc cùi chỏ vào bụng, lập tức ngã xuống. Sau đó một lúc, con tỉnh dậy, đi về nhà. Có lẽ con đã bị giết chết rồi nếu không mang một tấm gương soi trong người”.

Không nói không rằng chính ông là kẻ đã đánh gục người môn sinh, vị võ sư già nghiêm nghị quở trách hành động tàn ác của anh ta và ra lệnh cho anh ta không bao giờ phạm phải một hành động ngu xuẩn như vậy nữa.

Theo maxreading.com

Thông tin cần biết về Kapoira – môn võ của Châu Phi

Thông tin cần biết về Kapoira - môn võ của Châu Phi

 Kapoira có được đề cập đến trong 1 phim Truyền hình dài tập về Chủ đề nô lệ. Phim đại khái nói về 1 trang trại vào thời cuối cùng của chủ nghĩa nô lệ, có 1 bá tước chủ nô và 1 nữ bá tước rất xinh, rồi có lực lượng da đen nổi dậy, xuất hiện thêm cả những người con lai nhưng vẫn là nô lệ nữa…

Thông tin cần biết về Kapoira - môn võ của Châu Phi

Thông tin cần biết về Kapoira – môn võ của Châu Phi

Người Phi Châu có sức bật rất tốt, khả năng nhào lộn cũng đặc biệt cao. Kapoira hoàn toàn dựa trên những yếu tố này. Là một môn phái có lối di chuyển và tấn công đẹp mắt, bao gồm rất nhiều động tác nhào lộn trước khi ra đòn Chủ yếu là đòn chân . Nhìn qua hao hao giống mấy điệu nhảy Hip-hop của các bạn trẻ. Tuy nhiên sức mạnh của cú đòn được cộng hưởng từ lực xoay của thân Giống như đá vòng cầu kết hợp với sức bật của cơ bắp người Phi Châu nên rất có hiệu quả.

Một biến tướng của Kapoira hiện đại là môn Free-Kicks hoặc Triple-Kicks gì gì đó hay thấy ở các Video trên mạng. Kết hợp giữa các động tác bật người, Santo và tung ra các cú đá.

Kapoira có được đề cập đến trong 1 phim Truyền hình dài tập về Chủ đề nô lệ. Phim đại khái nói về 1 trang trại vào thời cuối cùng của chủ nghĩa nô lệ, có 1 bá tước chủ nô và 1 nữ bá tước rất xinh, rồi có lực lượng da đen nổi dậy, xuất hiện thêm cả những người con lai nhưng vẫn là nô lệ nữa…

Kết thúc là sự tự sát của bá tước, nữ bá tước đứng bên cạnh người tình là một luật sư trẻ tuổi, cả hai đứng nhìn đoàn người từ Ý di cư sang thay thế cho nô lệ làm việc ở các đồn điền. Trong phim này có 2 người da đen nổi dậy sử dụng Kapoira rất hay. Chỉ 1 lần ra đòn đã quật ngã tên cai nô lệ to lớn, lần tiếp theo là bẻ gẫy cổ hắn bằng chân.

Ngoài ra có rất ít phim hoặc tài liệu nói về môn võ này…

Đúng là môn sinh Kapoira cao cấp thì phải cởi trần, tuy nhiên nếu là Nữ, hoặc sơ cấp thì vẫn mặc áo. Kapoira là một môn phái hơi nặng về biểu diễn, (phần đối kháng không truyền rộng rãi) nên đôi lúc trông nó hơi giống Hip-Hop.

Theo maxreading.com

Thông tin cần biết về võ thuật Việt Nam

Thông tin cần biết về võ thuật Việt Nam

Hầu hết các danh sư đều ngại đụng chạm nên không thể nêu tên đích danh. Tất cả họ đều nhất trí với nhau rằng, đã gọi là võ học phải hội đủ 3 yếu tố chính: Võ đạo, võ thuyết và võ pháp.

Thông tin cần biết về võ thuật Việt Nam

Thông tin cần biết về võ thuật Việt Nam

Có lẽ trên thế giới, không có quốc gia nào có nhiều môn phái võ thuật như ở Việt nam. Cho đến tận bây giờ, dù cố gắng hết mức, Liên đoàn Võ thuật Việt Nam cũng chưa thể tập họp và thống kê hết các môn phái võ xuất xứ trong nước. Hàng trăm môn phái trãi dài từ Bắc đến Nam cho thấy tâm hồn Việt có tinh thần thượng võ cao ngút. Có võ phái lấy chân lý “tuyệt kỹ bế môn”, âm thầm khiêm tốn nơi thâm sơn cùng cốc nên thất truyền. Có võ phái mang màu sắc tâm linh huyền bí, không truyền thụ rộng rãi dẫn đến “bế truyền”, nhưng cũng có võ phái “trời ơi đất hỡi” không biết xuất xứ từ đâu, tự đến rồi đi, mất dạng giữa biển đời. Lại có võ phái xuất xứ từ … một ngày đẹp trời nào đó, có anh chàng mê kiếm hiệp bỗng xuất thần sáng tác vài đường quyền rồi vỗ ngực xưng tên “đại môn phái”.

RỪNG VÕ

Một danh sư làng võ cổ truyền Việt Nam cho rằng, đất nước ta có 5 hệ phái chính gồm: Bắc Hà, Bình Định, Nam Bộ, Trung Hoa và các hệ phái võ Việt đang phát triển ở nước ngoài. Nhiều bậc danh sư không đồng tình. Vì võ Việt ở nước ngoài bắt nguồn từ Việt Nam, hà tất phải xếp thành một hệ phái. Một danh sư nỗi tiếng với ngón “liên hoàn cước” thì chia võ Việt thành 4 hệ phái:

– Xuất xứ tại Việt Nam, có ông tổ là người người Việt Nam.

– Xuất xứ tại Việt Nam nhưng ông tổ là người nước ngoài lưu lạc đến Việt Nam.

– Xuất xứ tại Việt Nam, ông tổ là người Việt Nam nhưng có pha trộn chiêu thức từ võ nước ngoài.

– Xuất xứ tại Việt Nam nhưng ông tổ là… nhà văn Kim Dung!

Trong phạm vi bài này không bàn đến các hệ phái võ xuất xứ từ nước ngoài.

Ba hệ phái trên đều được xã hội trải nghiệm nhiều năm. Những hệ phái này có võ đạo, võ thuyết, võ pháp và được người đời tôn vinh, truyền tụng. Riêng hệ phái thứ tư mới làm những nhà nghiên cứu đau đầu. Hệ phái này sinh sau đẻ muộn nhưng luôn đòi hỏi các nhà nghiên cứu “phải đưa em vào danh phái xứ Nam”. Đó cũng là một phần lý do mấy chục năm nay, võ cổ truyền Việt Nam chưa có tiếng nói chung, chưa định hình được “võ Việt Nam là võ gì?”.

Hầu hết các danh sư đều ngại đụng chạm nên không thể nêu tên đích danh. Tất cả họ đều nhất trí với nhau rằng, đã gọi là võ học phải hội đủ 3 yếu tố chính: Võ đạo, võ thuyết và võ pháp. Nếu thiếu một trong 3 yếu tố ấy thì không thể gọi là võ thuật mà chỉ đáng gọi là võ biền. Một hệ phái võ chỉ biết đánh đấm mà không hiểu đánh vào cái gì, tại sao đánh như vậy thì chỉ đáng gọi là đánh cuội.

Ngay như võ vật Liễu Đôi xuất xứ từ Hà Nam cũng có 3 yếu tố chính. Đạo: Rèn luyện thân thể. Thuyết: Mượn sức người vật người. Pháp: Lừa miếng.

Võ Nhất Nam ở Thanh Hoá và Nghệ An xuất thân từ cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông cũng có tiêu chí rõ rệt về võ thuật.

Võ Bình Định xuất xứ từ cuộc khởi nghĩa Tây Sơn, đến nay đã truyền được hơn 20 đời truyền nhân vẫn giữ nguyên giá trị võ học.

Riêng võ thuật Nam Bộ rất đa dạng phong phú với nhiều hệ phái do sự pha trộn văn hoá giữa các quốc gia. Văn hoá Việt và Chămpa từ miền Trung di cư vào. Văn hoá Miên (Campuchia) và Xiêm (Thái Lan) từ hướng Tây qua. Văn hoá Trung Hoa từ cực Nam do Mạc Cửu đi lên. Võ thuật cũng ảnh hưởng sự pha trộn văn hoá ấy tạo thành rừng võ xuất xứ từ miền Nam với những hệ phái vang danh: Tân Khánh Bà Trà; Gò công, Thất Sơn võ đạo; Sơn Trà kha; Pali thần quyền…

Những hệ phái có xuất xứ từ miền Tây, hầu hết điều có liên quan đến các cuộc khởi nghĩa yêu nước như Trương Định (Gò Công), Trần Văn Thành (Thất Sơn võ đạo)…

Miền Nam xưa có các danh sư được xã hội công nhận và tôn vinh: “Tam nhật, tam nguyệt, tứ tú”. Tam nhật gồm: Hàn Bái, Bá Cát, Bảy Mùa. Tam nguyệt gồm: Trương Thanh Đăng, Quách Văn Kế, Vũ Bá Oai. Tứ tú gồm: Hồ Lành, Trần Sil, Xuân Bình và Lý Huỳnh.

Nhiều phái võ Việt không chỉ rạng danh ở quê nhà mà còn được các Trưởng chi quảngbá, truyền thụ ở nước ngoài tạo thành tên tuổi.

Việt Võ Đạo, còn gọi là Vo Vi Nam do danh sư Nguyễn Công Tốt sáng lập dựa trên những tinh hoa các phái võ nước ngoài. Võ phái này sử dụng các chiêu thức hay của nước ngoài biến thành những chiêu thức phù hợp với thể chất người Việt. Hiện nay, các môn đệ của ông đã thu hút hàng ngàn võ sinh trên 10 quốc gia trên thế giới (*). Nhiều phái võ Việt khác như Cửu Long, Nam Hổ Quyền, Song Klong Khiên, Tây Sơn, Nam Hải phát triễn mạnh ở các nước phương Tây, thu hút gần 20.000 võ sinh, tạo nên một phong trào võ Việt sôi nổi. Tinh thần thượng võ của người Việt đã được các chưởng môn, trưởng chi chứng minh ở nước ngoài rất phong phú. Nhiều danh sư được các quốc gia trao cờ, khen tặng…

VÕ THUẬT MIỀN TÂY NAM BỘ XƯA

Từ thuở mở đất tiền về phương Nam, do chống chọi với thiên nhiên, thú dữ và cướp phỉ, người Việt nơi đây đã sáng lập nhiều môn phái võ mang tính chiến đấu cao như Tân Khánh Bà Trà, Gò Công, Thất Sơn võ đạo….

Do ảnh hưởng phong trào kháng Pháp, nhiều chí sỹ khóc hận nước mất nhà tan đã lánh vào rừng sâu núi thẳm rèn binh chờ cơ hội cứu nước nên khắp miền Nam thuở trước, vùng nào cũng có một hệ phái ra đời. Ở vùng Thất Sơn – Nơi chưởng cơ Trần Văn Thành tụ nghĩa kháng chiến đã có hàng chục hệ phái xuất hiện.

Một số Chưởng môn truyền nhân của các hệ phái đều nhắc đến ông tổ Cử Đa – Một nhà sư tay không đã hổ ở núi Thiên Cấm Sơn. Cũng có thể đó là ông tổ chung nhiều môn phái võ có xuất xứ ở vùng thất sơn.

Tương truyền, ông Cử Đa là một trong số chỉ huy của Chưởng cơ Thành. Khi nghĩa quân bị thực dân Pháp đàn áp, các vị chỉ huy nghĩa quân phân tán lực lượngvao các cánh rừng già để bào toàn lực lượng và chờ đợi người liên lạc của Chưởng cơ Thành. Họ không ngờ rằng chủ soái đã bị giặc bắt và tử hình. Với quân số ít ỏi, Cử Đa không thể làm được gì ngoài việc chiêu mộ thêm nghĩa quân và ngày đêm luyện tập võ nghệ. Do ảnh hưởng tín ngưỡng và điều kiện rèn quân nên hệ phái tổ sư Cử Đa có võ pháp nghiêng về các thế tấn công quyền pháp và binh khí. Về võ đạo, hệ phái tôn vinh tinh thần dân tộc, chống ngoại xâm và tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh sư phụ (chỉ huy) bằng lời thề độc khi nhập môn. Về võ thuyết, hệ phái này lấy niềm tin từ “cõi âm”, vì vậy, ngoài những bài tập rèn luyện về thể chất, võ sinh còn phải luyện bùa, phép, ngải, chú. Do sống trong vùng rừng thiên nước độc, không có giấy tờ ghi chép nên các võ sinh chỉ học bằng cách truyền khẩu. Sau này, các đệ tử (Nghĩa quân) của tổ sư Cử Đa tiếp tục đi khắp nơi chiêu mộ nghĩa quân, chiêu mộ đến đâu huấn luyện võ thuật đến đó. Vì lưu trữ kiến thức võ học bằng trí nhớ nên chuyện tam sao thất bồn là lẽ đương nhiên. Sau nhiều thế hệ nối tiếp, dần dà, Thất Sơn võ phái biến thành nhiều chi phái khác nhau. Có nhiều chi Thất Sơn nhưng hầu hết đều không nhận ra bài quyền nào của nhau. Thậm chí có chi phái hoàn toàn không luyện đòn thế mà chỉ chú tâm vào huyền thuật, gọi là chi phái “thần quyền”. Khoảng thập niên 70 của thế kỷ trước, nhiều người đã cố công sưu tầm, tập hợp các tinh hoa của tổ sư Cử Đa nhưng chưa thành công đã giài tán do chiến tranh.

Ở Gò Công có hệ phái Lâm Sơn phát nguôn từ lực lượng kháng chiến của Trương Định. Sau nhiều thế hệ truyền nhân, hệ phái này cũng phân mảnh thành nhiều chi phái khác nhau.

KỲ TÍCH VÀ HUYỀN THOẠI

Một danh sư Thất Sơn võ đạo đã mai danh tại Long Xuyên, cho biết: “Ngày xưa (đầu thế kỷ 20) tỷ thí võ đài không như bây giờ. Do nhiều hệ phái, chi phái xuất sơn hoà nhập với cộng đồng, ai cũng muốn phái của mình là đệ nhất võ lâm nên các võ sư thường tổ chức tỷ thí võ đài để tranh ngôi cao thấp. Vì vậy, nhiều cuộc thư hùng tranh tài cao thấp đã diễn ra”.

Thông thường, các võ sỹ không bao giờ dám tỷ thí võ đài nếu không có sự đồng ý của sư phụ.

Tỷ thí võ đài ngày xưa khác xa với đấu võ đài ngày nay như một số người lầm tưởng.

Ngày xưa, những cuộc tỷ thí võ đài thường do sư phụ, huynh trưởng của môn phái này với môn phái kia hoặc chi phái này với chi phái kia “thách thức” nhau. Họ chọn một bãi đất trống giăng dây hoặc vẽ vòng trên mặt đất. Trước mỗi trận thư hùng, hai bên đều lập bàn thờ tổ tại đài võ, khấn vái. Sau đó, sư phu hoặc huynh trưởng mỗi bên lập bản giao kèo, quy ước. Bên cạnh là hai chiếc quan tài để sẵn.

Trận thư hùng giữa võ phái thần quyền Thất Sơn ở cù lao Ông Chưởng và võ phái Trà Kha ở Bạc Liêu được võ sư Ba ở Cao Lãnh, Đồng Tháp kể lại: “Lúc đó, tôi 15 tuổi vừa nhập môn bái sư võ phái Thất Sơn vài ngày. Sư phụ tôi là Bảy Hớn. Nghe mấy huynh trưởng kể lại, mấy ngày trước, khi mọi người đang luyện võ thì một người gốc Miên xuất hiện xin gặp sư phụ. Người này tên No Sa Dăm là môn đệ của võ sư No Sa gốc Nam Vang đang mở võ đường ở Bạc Liêu. Họ nghe danh Thất Sơn Thần quyền đã lâu, nay muốn thí võ đài để học hỏi. Sư phụ tôi nhận lời. Bữa tỷ thí võ đài, bà con nghe tin chèo xuồng kéo đến coi cả ngàn người. Theo giao kèo giữa hai sư phụ thì, mỗi bên chọn ra 5 võ sỹ đấu thành 5 cặp. Võ sỹ bên nào văng ra khỏi vòng vẽ, xem như thua. Võ sỹ bên nào đo ván, lưng chạm đất, xem như thua. Võ sỹ bên nào đưa một cánh tay lên trời xem như xin thua. Đấu không nghỉ giải lao, đến khi có người thắng kẻ thua mới kết thúc trận. Bên nào có người bị thương, bị chết tự lo liệu thuốc men, chôn cất, không bên nào được thưa kiện ra Chánh quyền thuộc Pháp. Nếu bị pháp luật truy cứu, bên này phải làm tờ bãi nại cho bên kia. Hai bên đấu với nhau chỉ vì sỹ diện môn phái chứ không mua bán, tranh chấp gì cả. Sư phụ tôi lựa 5 đệ tử giỏi nhất ra đấu. Kết quả, phía Thất Sơn 1 người bị gãy tay, 1 người bể be sườn. Phía Trà Kha 2 người gãy chân, 1 người bất tỉnh. Thất Sơn Thần quyền có chiêu phá mã, còn phía gồng Trà Kha thì có chiêu khóa tay vật. Xem như hai bên bất phân thắng bại hẹn sẽ có dịp tái đấu. Sau đó cánh mạng tháng 8 bùng nổ, hai bên không có dịp gặp lại nhau. Sau này nghe nói No Sa Dăm đào tạo được rất nhiều thế hệ võ sỹ giỏi. Học trò của No Sa Dăm đào tạo được những võ sỹ nỗi tiếng sau năm 1975 như No Sa Long, No Sa Liên…”. Năm 1973, võ sư Ba có dịp gặp lại võ sư No Sa tại Sài Gòn. Lúc bấy giờ No Sa là huyến luyện viên trưởng đoàn võ thuật Caqmpuchia dẫn đoàn võ sỹ Campuchia sang đấu võ đài do Tổng hội võ thuật Sài Gòn tổ chức.

Sau này, vào khoảng thập niên 60 thế kỷ 20, những cuộc tỷ thí chết chóc không được tổ chức nữa mà chỉ tổ chức đấu vọ đài theo luật thể thao. Luật thể thao quy định hai võ sỹ đấu với nhau phải cùng hạng cân, mỗi trận chỉ có 3 hiệp, mỗi hiệp 3 phút. Võ sỹ bên nào cũng có săn sóc viên y tế đi theo và cuộc đấu luôn có hội đồng trọng tài chấm điểm.

Thời điểm này, phong trào võ thuật vùng miền Nam bộ như có làn gió mới, nơi nào cũng có võ đường tên tuổi như cồn: Sa Đéc có lò võ Sáu Cường; Lý Suol ở Châu Đốc; Bảy Biển ở Kiên Giang; Ba Hoằng ở Long Xuyên; Tiểu La Thành ở Vĩnh Long. Nhiều võ sư tạo được tiếng vang nhờ đào tạo được những võ sỹ vô địch trong các trận đấu võ đài. Đến tận ngày nay, những võ sư ấy vẫn còn được nhiều người nhắc như: Hai Diệp, Lê Bình Tây, Mười Nho, Nguyễn Mách, Cao Lý Nhơn, Út Dài, Phạm Thành Long, Lý Huỳnh Yến, Lâm Văn Có, Thiên Đường, Đoàn Tâm Ảnh, Tần Hớn, Vương Văn Quảng, Lâm Hổ Hội, Lê Hông Chương, Mười Cùi, Từ Thiện, Hồ Tường, TRần Xil, Lê Đại Hoan, Minh Sang… rất nhiều.

Họ thường tổ chức thi đấu tại Chợ Lớn (quận 5) mang tính giao hữu với các quốc gia trong khu vực như Campuchia, Hồng Kong. Trong những cuộc đấu giao lưu ấy, nhiều võ sỹ Việt Nam đã tạo được sự thán phục của các võ sư, võ sỹ nước ngoài. Báo chí thể thao dạo ấy đã bình luận từng tuyệt chiêu của các võ sỹ. Võ sỹ Minh Sang (võ đường Minh Sang) nỗi tiếng gan lỳ và ngọn quyền vũ bão; Võ sỹ Minh Sơn (võ đường Denis Minh) có cú đấm như điện xẹt; Võ sỹ Xuân Quỳnh là “cây trụ đồng của võ đường Kim Kê”… Những trận thư hùng này đã khiến các đối thủ nước bạn nhớ những tên đòn thế: “Bàn sa cước” của võ sỹ Nguyễn bình; Cú húc chỏ “hồi mã thương” của Minh Sơn; “Liên tiền cước” của Trần Nho…

Các nữ võ sỹ Việt cũng tạo nên song gió như Hồ Ngọc Thọ (võ đường Từ Thiện) vô dịch hạng ruồi nhẹ; Lân Ngọc Vân (võ đường Lâm Sơn Hải) vô địch hạng ruồi; Võ sỹ Xuân Liễu (võ đường Biên Hòa) vô địch hạng ruồi.

Trong một trận thư hùng giữa võ sỹ Việt với các võ sỹ Hong Kong là môn đệ của Lý Tiểu Long Vịnh Xuân Quyền xảy ra năm 1973 khiến báo chí thể thao miền Nam lúc đó tốn khá nhiều công sức bình luận. Trong đợt thi đấu này võ sỹ Trần Mạnh Hiền Việt Nam đã thắng tuyệt đối bằng nốc ao võ sỹ Châu Đạt Vinh Hong Kong bằng một cú đá thần sầu ở hiệp ba khiến khán giả hâm mộ võ thuật sôi sục. Ngày nay, những võ sỹ thuở ấy đã trở thành đại võ sư.

Nhờ những trận đấu võ đài ấy, các võ đường Việt Nam nườm nượp môn sinh đến đăng ký học võ. Thời điểm đó, học phí mỗi tháng khoảng 700 đồng/học viên. Chỉ cần huấn luyện 100 võ sinh là sư phụ có thể yêm tâm về cơm áo gạo tiền để chuyên tâm nghiên cứu võ học. Thời điểm đó, chiếc xe Hon Da 67 còm măng chính hãng, giá khoảng 15.000 đồng/ chiếc.

Bỗng dưng thời hưng thịnh của võ học Việt xẹp lép. Nhiều võ sư chạy theo kế sinh nhai bỏ nghề. “Loạn võ sư” bắt đầu manh nha phát triễn. Nhiều môn phái không hiểu từ đâu xuất hiện như: Sát Tử Quyền, Bạch Long Sát Tử Quyền, Vô Biên Võ đạo, Nghịch Tất Tử Võ phái, Cao Đài quyền pháp. Thậm chí một cơ sở sản xuất thuốc sơn đông mãi võ cũng tự sáng tác ra môn phái “Y võ” rồi tự lu loa là võ Việt Nam cổ truyền…

Nhiều nước đã tôn vinh môn võ xuất sắc của họ như Indo có pencatxilat, Trung Hoa có Thiếu lâm, Thái Lan có Maya… Còn Việt Nam, môn phái nào là Việt Nam võ đạo cổ truyền chính hiệu? Điều đầu tiên, có lẽ nên cấm tiệt những kiểu tự sáng tác vài bài quyền múa rối rồi xưng danh Võ Cổ Truyền Việt Nam kẻo làm mất mặt những tổ sư Việt và hãy giữ lại những tinh hoa của võ học Việt có từ trăm năm trước.

Theo maxreading.com