Tag: kiến thức võ thuật

Thông tin cần biết về tuyệt kỹ điểm huyệt trong võ thuật

Thông tin cần biết về tuyệt kỹ điểm huyệt trong võ thuật

Khi bị điểm trúng: Đập vào khu diên tuỷ (một phần não sau nối tuỷ sống) sẽ không nói được, choáng đầu, ngã xuống đất bất tỉnh.

Thông tin cần biết về tuyệt kỹ điểm huyệt trong võ thuật

Thông tin cần biết về tuyệt kỹ điểm huyệt trong võ thuật

Trước đây bí thuật này vẫn luôn bị đóng kín trong giới võ lâm, ít người biết được công phu này, và cũng ít người tập luyện được cách điểm huyệt… và các vị thầy dạy theo lối bí truyền nên dần dần bị thất truyền .

Toàn bộ thân thể có 108 huyệt nguy hiểm, trong đó có 72 huyệt nói chung khi bị điểm, đánh không đến nổi gây ra tử vong, còn lại 36 huyệt trí mạng có thể dẫn đến tử vong, còn gọi là Tử huyệt.

Trong khi va chạm quyền cước, có thể trở thành sát thủ nếu thực hiện đòn đánh vào các Tử huyệt như: Bách Hội, Thần Đình, Thái Dương, Nhĩ Môn, Tình Minh, Nhân Trung, Á Môn, Phong Trì, Nhân Nghênh, Đản Trung, Cựu Vĩ, Cự Khuyết, Thần Khuyết, Khí Hải, Quan Nguyên, Trung Cực, Khúc Cốt, Ưng Song, Nhủ Trung, Nhũ Căn, Kỳ Môn, Chương Môn, Thương Khúc, Phế Du, Quyết Âm Du, Tâm Du, Thanh Du, Mệnh Môn, Chí Thất, Khí Hải Du, Vi Lư, Kiến Tỉnh, Thái Uyên, Tâm Túc Ly, Tâm Âm Giao, Dũng Tuyền .

36 huyệt nguy hiểm ở trên, sau khi bị điểm trúng đều có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng.

A. VỊ TRÍ CÁC HUYỆT NGUY HIỂM VÙNG ĐẦU, CỔ:

1. Huyệt Bách Hội:

– Vị trí: Tại giao điểm của tuyến chính giữa đỉnh đầu và đường nối liền phần đầu nhọc trên của 2 tai.

– Khi bị điểm trúng: Sẽ choáng váng, ngã xuống đất bất tỉnh nhân sự.

2. Huyệt Thần Đình:

– Vị trí: Từ mép tóc trước trán lên 5 cm.

– Khi bị điểm trúng: Sẽ choáng váng, ảnh hưởng đến não.

3. Huyệt Thái Dương:

– Vị trí: tại chổ lõm phía đuôi chân mày.

– Khi bị điểm trúng: Sẽ choáng váng, mắt tối lại, ù tai.

4. Huyệt Nhĩ Môn:

– Vị trí: Tại chổ khuyết ở trước vành tai, khi há miệng hiện ra chỗ lõm.

– Khi bị điểm trúng: Ù tai, choáng đầu ngã xuống đất.

5. Huyệt Tình Minh:

– Vị trí:Tại chỗ góc khóe mắt trong, đầu chân mày.

– Khi bị điểm trúng: Có thể hôn mê hoặc hoa mắt ngã xuống đất.

6. Huyệt Nhân Trung:

– Vị trí: Dưới chóp mũi.

– Khi bị điểm trúng: Sẽ choáng đầu, hoa mắt.

7. Huyệt Á môn:

– Vị trí: Sau ót, chỗ lõm giữa gai đốt sống cổ thứ nhất và đốt sống cổ thứ 2.

– Khi bị điểm trúng: Đập vào khu diên tuỷ (một phần não sau nối tuỷ sống) sẽ không nói được, choáng đầu, ngã xuống đất bất tỉnh.

8. Huyệt PhongTrì:

– Vị trí: Phía sau dái tai, chổ lõm dưới xương chẩm.

– Khi bị điểm trúng: Đập vào trung khu diên tuỷ, hôn mê bất tỉnh.

9. Huyệt Nhân Nghênh:

– Vị trí: Yết hầu, ngang ra 2 bên 5cm.

– Khi bị điểm trúng: Khí huyết ứ đọng, choáng đầu.

B. CÁC HUYỆT NGUY HIỂM Ở VÙNG BỤNG, NGỰC:

1. Huyệt Đảm Trung:

– Vị trí: Giữa hai đầu vú.

– Khi bị điểm trúng: Nội khí tản mạn, lòng dạ hoảng loạn, thần trí không được rõ ràng.

2. Huyệt Cửu Vĩ:

– Vị trí: Trên rốn 15cm.

– Khi bị điểm trúng: Đập vào động mạch vách bụng, tĩnh mạch, gan, mật, chấn động tim, đọng máu, có thể gây tử vong.

3. Huyệt Cự Khuyết:

– Vị trí: Trên rốn 9cm.

– Khi bị điểm trúng: Đập vào gan, mật, chấn động tim, có thể gây tử vong.

4. Huyệt Thần Khuyết:

– Vị trí: Tại chính giữa rốn.

– Khi bị điểm trúng: Đập vào thần kinh sườn, chấn động ruột, bàng quan, tổn thương đến khí, làm thân thể mất đi sự linh hoạt.

5. Huyệt Khí Hải:

– Vị trí: Dưới rốn 4cm.

– Khi bị điểm trúng: Đập vào vách bụng, tĩnh động mạch và sườn, phá khí, máu bị ứ lại làm thân thể mất đi sự linh hoạt.

6. Huyệt Quan Nguyên:

– Vị trí: Dưới rốn 7cm.

– Khi bị điểm trúng: Đập vào động mạch vách bụng dưới, tĩnh mạch và thần kinh sườn gây chấn động ruột, khí huyết ứ đọng.

7. Huyệt Trung Cực:

– Vị trí: Dưới rốn 10cm.

– Khi bị điểm trúng: Đập vào động mạch vách bụng, tĩnh mạch và chấn đọng thần kinh kết tràng chữ S, thương tổn khí cơ.

8. Huyệt Khúc Cốt:

– Vị trí: Tại xương khung chậu bụng dưới – hạ bộ.

– Khi bị điểm trúng: Thương tổn đến khí cơ toàn thân, khí huyết ứ đọng.

9. Huyệt Ưng Song:

– Vị trí: Trên vú, tại xương sườn thứ 3.

– Khi bị điểm trúng: Đập vào thần kinh sườn và thần kinh trước ngực cho đến động, tĩnh mạch, chấn động làm tim ngừng cung cấp máu, gây choáng váng.

10. Huyệt Nhũ Trung:

– Vị trí: Tại chính giữa đầu vú.

– Khi bị điểm trúng: Đập vào thần kinh sườn và động mạch sung huyết (nhồi máu) phá khí.

11. Huyệt Nhũ căn:

– Vị trí: Dưới đầu vú 1 đốt xương sườn.

– Khi bị điểm trúng: Do phía trong bên trái là quả tim, nên khi bị điểm trúng sẽ đập vào tim, gây sốc dễ dẫn đến tử vong.

12. Huyệt Kỳ môn:

– Vị trí: Dưới núm vú, tại xương sườn thứ 6.

– Khi bị điểm trúng: Đập vào gan, lá lách, chấn động cơ xương, khí huyết ứ đọng.

13. Huyệt Chương môn:

– Vị trí: Tại tuyến giữa nách, mút cuối xương sườn nổi số 1, khi co khuỷu tay khép vào nách, nó nằm ngang với điểm cuối cùng của khuỷu tay.

– Khi bị điểm trúng: Vì phía trong bên phải là gan, nghiêng phía dưới là lá lách, nên khi bị điểm trúng sẽ đập vào gan hoặc lá lách, phá hoại màng cơ xương, cản trở sự lưu thông của máu và tổn thương đến khí.

14. Huyệt Thương khúc:

– Vị trí: Giữa bụng tại bao tử, ngang ra 2 bên 5cm.

– Khi bị điểm trúng: Đập vào thần kinh sườn và đọng mạch vách bụng, chấn đọng ruột, tổn thương khí, ứ đọng máu.

C. CÁC HUYỆT NGUY HIỂM TẠI PHẦN LƯNG, EO VÀ MÔNG:

1. Huyệt Phế du:

– Vị trí: Tại mỏm gai đốt sống ngực thứ 3, ngang ra 2 bên lưng 4cm.

– Khi bị điểm trúng: Đập vào động mạch xương sườn thứ 3, tĩnh mạch và thần kinh, chấn động tim, phổi, phá khí.

2. Huyệt Quyết âm du:

– Vị trí: Tại phía dưới mỏm gai đốt sống ngực thứ 4, ngang ra 2 bên lưng 4cm.

– Khi bị điểm trúng: Đập vào thành tim, phổi, phá khí cơ, dễ gây tử vong.

3. Huyệt Tâm du:

– Vị trí: Tại mỏm gai đốt sống ngực thứ 5, ngang ra 2 bên lưng 4cm.

– Khi bị điểm trúng: Đập vào thành tim, phá huyết, thương tổn khí.

4. Huyệt Thận du:

– Vị trí: Tại mỏm gai đốt sống eo lưng thứ 2, ngang ra 2 bên lưng 4 cm.

– Khi bị điểm trúng: Đập vào quả thận, tổn khí cơ, dễ dẫn đến liệt nửa người.

5. Huyệt Mệnh môn:

– Vị trí: Giữa đốt sống thắt lưng thứ 2 và thứ 3.

– Khi bị điểm trúng: Đập vào xương sườn, phá khí cơ, dễ gây ra liệt nửa người.

6. Huyệt Chí thất:

– Vị trí: Tại mỏm gai đốt sống eo lưng thứ 2 ngang ra 2 bên 6cm.

– Khi bị điểm trúng: Đập vào động mạch eo lưng, tĩnh mạch và thần kinh, chấn động thận, thương tổn nội khí.

7. Huyệt Khí hải du:

– Vị trí: Tại mỏm gai đốt sống eo lưng thứ 3, ngang ra 2 bên 4cm.

– Khi bị điểm trúng: Đập vào quả thận, cản trở huyết, phá khí.

8. Huyệt Vĩ lư:

– Vị trí: Tại giữa chỗ hậu môn và xương cùng.

Khi bị điểm trúng: Gây trở ngại đến sự lưu thông của khí trên toàn thân, khí tại huyệt Đan điền không dâng lên được.

D. CÁC HUYỆT VỊ NGUY HIỂM Ở TAY VÀ CHÂN:

1. Huyệt Kiên tỉnh:

– Vị trí: Chỗ cao nhất phần vai.

– Khi bị điểm trúng: Cánh tay tê bại, mất đi sự linh hoạt.

2. Huyệt Thái uyên:

– Vị trí: Ngữa lòng bàn tay, tại chỗ lõm lằn ngang cổ tay.

– Khi bị điểm trúng: Cản trở bách mạch, tổn thương nội khí.

3. Huyệt Túc tam lý:

– Vị trí: Bờ dưới xương bánh chè xuống 6cm, trước xương ống chân ngang ra ngoài 1 ngón tay.

– Khi bị điểm trúng: Chi dưới tê bại, mất đi sự linh hoạt.

4. Huyệt Tam âm giao:

– Vị trí: Tại đầu nhọn mắt cá chân thẳng lên 6 cm, sát bờ sau xương ống chân.

– Khi bị điểm trúng: Chi dưới tê bại, mất linh hoạt, thương tổn khí ở huyệt Đan điền.

5. Huyệt Dũng tuyền:

– Vị trí: Nằm tại lòng bàn chân, khi co ngón chân xuất hiện chỗ lõm.

– Khi bị điểm trúng: Thương tổn đến khí tại huyệt Đan điền, khí không thể thăng lên được, phá khinh công.

Tóm lại, 36 huyệt nguy hiểm ở trên, sau khi bị điểm trúng đều có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng.

Theo maxreading.com

Thông tin cần biết về túy quyền

Thông tin cần biết về túy quyền

Những đặc điểm kể trên khiến cho quyền pháp, cách ngã và dáng hình say từ những môn loại riêng biệt hơn thành một chỉnh thể, tạo nên một phong cách võ thuật độc đáo, thú vị và vô cùng hấp dẫn, đồng thời khi tập luyện cũng luôn luôn đòi hỏi những yêu cầu ngày một cao hơn.

Thông tin cần biết về túy quyền

Thông tin cần biết về túy quyền

Túy quyền (gọi đơn giản ở tiếng Việt là “võ say”) là một môn võ thuật của Trung Quốc. Các động tác của môn võ say rất đa dạng, có lúc nhẹ như đang nâng cốc rượu đầy, có lúc lại bổ nhào như người đang quá say; lúc ngã sấp xuống, lúc đứng khựng lại bất động, không tiến không lùi. Khi võ thuật đã thực sự điêu luyện, bạn sẽ có dáng đi uyển chuyển, thân mình mềm mại, sức khoẻ dẻo dai, tinh thần phấn chấn.

Chính vì hình thức các động tác môn võ say phong phú và linh hoạt, khiến cho người tập rất say mê. Đó chính là lý do để môn võ say được tồn tại và lưu truyền đến ngày nay.

Đặc điểm của môn võ say là: ngụ ý của quyền pháp giống như hình người say rượu, tiềm ẩn một sức mạnh trong thế đứng và thế vồ; thân người từ thế uốn từ đông sang tây, luôn vươn ngẩng về phía trước cúi gập xuống phía sau, trong một trạng thái giống như say. Động tác có nét giống như con thú vồ quắp, có động tác bật như đá móc, nghiêng người né tránh, vung tay lên chém xuống. Động tác chân bao gồm thế tiến, thế lùi. Song trong thế đứng và thế bổ nhào đều có chứa đựng thế tiến công và thế phòng ngự kỳ diệu của toàn thân lúc vồ, lúc lật, lúc cắt, lúc khoá…

Những đặc điểm kể trên khiến cho quyền pháp, cách ngã và dáng hình say từ những môn loại riêng biệt hơn thành một chỉnh thể, tạo nên một phong cách võ thuật độc đáo, thú vị và vô cùng hấp dẫn, đồng thời khi tập luyện cũng luôn luôn đòi hỏi những yêu cầu ngày một cao hơn.

Tập luyện môn võ say có tác dụng rất tốt toàn diện đối với cơ thể, nó khiến cho các bắp thịt săn chắc và đầy sức mạnh, các khớp xương cử động mềm mại và linh hoạt, nâng cao sức chịu đựng và sức bền của cơ thể, tạo nên một cảm giác thăng bằng, thần kinh và cơ bắp luôn hoạt động linh hoạt, khoẻ mạnh, máu lưu thông tốt. Các cơ quan hô hấp cũng như các cơ quan nội tạng luôn được kích thích hoạt động tích cực. Như vậy, môn võ say có thể đảm bảo cho việc rèn luyện thể chất tốt của con người.

Theo maxreading.com

Thông tin cần biết về bộ lạc CHAVANTE với đòn khóa tay

Thông tin cần biết về bộ lạc CHAVANTE với đòn khóa tay

Nhờ bận tập luyện môn đô vật chiến đấu Panmo độc đáo, họ quên bẵng đi chuyện “xâm lăng” (nói như một nhà phân tâm học uống sáu ly “cốc tay” mỗi ngày ở Chicago).

Thông tin cần biết về bộ lạc CHAVANTE với đòn khóa tay

Thông tin cần biết về bộ lạc CHAVANTE với đòn khóa tay

Nằm bên bờ sông Tiete, Sao Paulo to lớn, nhộn nhịp và ồn ào như tất cả các đô thị có hai triệu dân khác. Tôi chỉ lưu lại đó một thời gian ngắn để làm thủ tục và nhận những văn thư giới thiệu cần thiết để đến thăm bộ lạc Chavante.

Tuần lễ sau, cùng với một viên chức bộ nội vụ Ba Tây đi làm thông dịch viên, chúng tôi đã có mặt tại vùng rừng rậm ẩm ướt Amazone, làm khách của xứ thuộc địa lớn gồm những thổ dân Chavante ở trần.

Không mấy ai biết và nghiên cứu về bộ lạc Chavante. Họ mặc quần cộc bằng vải (chắc họ lý luận rằng khí hậu nóng bức, mặc như thế là quá lắm rồi!), ở trong những túp lều tranh, sử dụng cung, giáo để săn bắn. Bộ Bách khoa tự điển Encyclopedia Britannica định nghĩa họ là “Đám dân săn bắn hơi nhút nhát”. Định nghĩa phải là luôn luôn đúng. Người Chavante không hề nhút nhát chút nào. Sự thực thì họ không đánh nhau với các bộ lạc lân cận chỉ vì họ không cần phải hành động như vậy:

1. Các bộ lạc lân cận quá sợ hãi bộ lạc Chavante nên đã tách xa vùng lãnh thổ của họ.

2. Nhờ bận tập luyện môn đô vật chiến đấu Panmo độc đáo, họ quên bẵng đi chuyện “xâm lăng” (nói như một nhà phân tâm học uống sáu ly “cốc tay” mỗi ngày ở Chicago).

Panmo chính là cái đích cuộc thăm viếng của tôi và tôi phải hiểu cho thấu đáo. Đó là một môn đô vật chiến đấu trong thế đứng và không mặc áo. Không được phép vật ở dưới đất, đó là điều cấm kỵ duy nhất, ngoài hai luật cấm móc mắt và đánh hạ bộ. Môn đô vật này không quy định những vùng đánh đai địch thủ, từ đó bạn có thể đẩy hắn ra để thắng điểm như trong môn Sumo. Panmo chủ đích ném hay đánh địch thủ sao cho hắn phải đo đất. Đó là môn Pankratium cổ xưa đã được giới hạn tối đa những đòn hung hiểm. Bị thương thì rất thường nhưng chưa có ai chết. Nhưng có những tay hảo thủ chết vì sử dụng nó.

Mọi người trong bộ lạc đều học đô vật. Lúc nào họ cũng vật và có lẽ muốn vật hoài. Chưa có ai làm khán giả mà không đấu. Ngay những kẻ què cụt cũng tập môn này tùy theo khả năng thể chất của họ. Tuy nhiên, đàn bà không đấu vật và luật cũng cũng cấm ngặt họ không được dự kiến các trận đấu.

Như tôi đã nói, tôi đến đó để chứng kiến. Hấp dẫn kinh khủng. Môn võ tàn bạo thật, các tay hảo thủ quả thật là công phu tập luyện. Họ biết cách bám sát địch, những đòn ném thật bay bướm và quyền pháp rất hữu hiệu.

Tuy cú đá của họ không “đạt” như các tay lão luyện môn Capoeiragem, nhưng mấy ai theo kịp các tay lão luyện đó?

Chẳng bao lâu, tôi nhận ra được một điều độc đáo. Nhiều tay đô vật bị gẫy tay vì một đòn khóa tay giống như atémi, đối thù của họ đã tung đòn bằng cả hai tay. Đòn đó thật nhanh và mãnh liệt.

Viên tù trưởng, người đóng vai chỉ dẫn cho tôi, nhận thấy tôi chú ý thích thú, liền nói:

“Ông đã thấy hiệu quả của đòn khóa tay Chavante, ông xem nó có công hiệu như các đòn khóa của các môn phái khác không?”

Tôi nói “Chắc chắn là như vậy rồi”.

Xong, ông hỏi tôi có được xem Gargentine Arocca đấu vật bao giờ chưa. Tôi bảo chưa, nhưng đã thấy y chiến đấu. Ông cười, hỏi tiếp: “Khi đấu ông thấy Arocca hay dùng đòn gì nhất”.

Tôi nói y hay sử dụng chân.

“Ông có biết tại sao hắn phải sử dụng chân không?”

“Không”, tôi đáp “Chắc vì đòn chân gây được hiệu quả nhiều hơn, hay vì đó là ngón sở trường độc đáo của y chăng”.

Ông nói, điều đó có phần nào đúng, nhưng nguyên do chính là vì hai tay y đã bị tàn tật sau một cuộc giao đấu với người Chavante năm 1948, Arocca những tưởng sẽ “làm gỏi” được đối thủ người da đỏ mảnh mai, yếu ớt đó, nhưng chỉ 40 giây sau, y đã bị đánh té ngửa, cả hai tay bị gãy luôn.

Mắt sáng long lanh ông nói, “Nếu muốn thử, lần sau ông có gặp Arocca, cứ nắm lấy cùi chỏ hắn bất cứ ai khác làm cũng được, bóp nhè nhẹ cũng đủ làm hắn hét tướng lên như đàn bà”.

Rồi ông biểu diễn kỹ thuật này. Dùng đòn đó chống lại một cú đấm là hay nhất, bất cứ tay nào của địch thủ vươn ra cũng đều bị lãnh đủ. Nó không phải là một thế khóa “nhập nội” gồm ba động tác, nhưng hơi giống một đòn atemi, hai tay nắm thẳng vào cùi chỏ chỏ địch thủ cùng lúc. Nếu địch thủ đấm tay phải vào người bạn, bạn dùng bàn tay trái xòe rộng từ dưới bẻ ngược cùi chỏ hắn lên, đồng thời, tay phải bạn xòe ra đẩy mạnh cườm tay hắn xuống. Hai ngón tay cái xòe ra để tiếp xúc được rộng. Khi đúng đà rồi, chân trái bạn đưa ra, dù chân nào đưa ra trước, ngón đòn cũng hiệu quả cả. Điểm quan trọng là phải nhắm đích cho chính xác và di chuyển hai tay cho thật nhịp nhàng. Nếu địch thủ đấm tay trái, bạn chỉ việc đảo ngược diễn tiến trên. Sự biến ảo trong ngón đòn “lên – xuống” này rất cần thiết khi ta gặp một đối thủ đấm thượng đẳng vào đầu ta. Lúc đó (nếu hắn đấm tay phải) tay trái ta chụp ngang vào trong và tay phải đẩy ngược ra ngoài.

Đòn này phải tập cho đều đặn, lâm trận phải thật quả quyết, hành động phải nhanh và chính xác, lúc đó sức mạnh sẽ đến ngay. Trên thực tế, nếu mọi hoạt động đều tung ra nhịp nhàng một lúc, ta rất ít tốn sức. Sau hết, phải cẩn thận khi tập luyện với bạn ta. Rất nhẹ thôi, còn để sức để tung vào cây cột tròn kính 1 tấc thì hơn.

Cùi chỏ không thể nào chống lại nổi ngón atemi thần sầu này do những lực tập trung ra cùng một lúc trong nháy mắt. Tôi sẽ luyện cho ngón đòn này thành vô địch.

Võ sư John F. Gilbey.

Trích “Những môn võ – BÍ TRUYỀN – trên thế giới”

Theo maxreading.com

Thông tin cần biết về võ truyền thống Pháp – SAVATE

Thông tin cần biết về võ truyền thống Pháp - SAVATE

Khi tôi gặp Baron ông đã được 67 tuổi, một lão tướng đầu bạc nhưng vẫn lanh lợi, quắc thước. Mở đầu câu chuyện, ông cho biết môn Savate của ông nội dung cũng giống như môn Savate mà Michel Pisseux đã dạy vào đầu thế kỉ thứ 19, mà sau này bị môn quyền thuật Pháp chiếm chỗ. Môn quyền thuật gần như giết chết môn Savate.

Thông tin cần biết về võ truyền thống Pháp - SAVATE

Thông tin cần biết về võ truyền thống Pháp – SAVATE

Môn võ cổ truyền Pháp gần như chết hẳn. Tại Pháp ngày nay không còn mấy phòng tập, các võ sư thì đang hồi chết đói. Người Pháp đổ sang học võ Nhật . Môn võ quốc hồn quốc túy Pháp nhường chỗ cho võ Không thủ Đạo của Nhật. Guillemin là tay quyền thuật cổ truyền chính tông cuối cùng của môn võ mà ông gọi là “đánh kiếm bằng tứ chi”. Có lẽ bây giờ ông đã chết rồi, vì lần cuối cùng tôi gặp, ông đã ngoài tám mươi.

Nhưng chương này không nói về ông, vì ông là một bậc võ sư chính thống thuộc môn phái cổ truyền. Chương này thuật chuyện ông Baron J. Fegnier, cao thủ cuối cùng của môn võ Savate, cùng những bí quyết của môn võ này.

Khi lưu lại nước Pháp, tôi có nhiều dịp chứng kiến môn quyền thuật Pháp, nhưng chưa lần nào thấy môn Savate cả. Nhờ môi giới của một thiếu phụ, tôi lần được dấu vết của ông Baron J. Fegnier, con người mà thiếu phụ ấy nghe nói có một “đấu pháp lạ lùng”.

Như nhiều nhà quyền thuật Baron nghèo lắm. Tiền bạc chỉ đủ tiêu dùng. Trong hoàn cảnh đó, tôi đã được chứng kiến sự luyện tập trong cả một giờ của ông vào năm 1956. Ông gọi cái môn tai ác đó là luyện tập thì cũng lạ thật, nhưng ông cứ gọi như thế.

Khi tôi gặp Baron ông đã được 67 tuổi, một lão tướng đầu bạc nhưng vẫn lanh lợi, quắc thước. Mở đầu câu chuyện, ông cho biết môn Savate của ông nội dung cũng giống như môn Savate mà Michel Pisseux đã dạy vào đầu thế kỉ thứ 19, mà sau này bị môn quyền thuật Pháp chiếm chỗ. Môn quyền thuật gần như giết chết môn Savate. Nhưng có bậc đại sư tên Lajond, ngài chống lại môn thể thao mới, nên vẫn tiếp tục truyền dạy môn Savate. Nhờ vậy qua nhiều năm, môn võ được trao đến tay Fegnier. Đáp câu hỏi của tôi rằng trong giai đoạn này thì sao, ông Baron nói, vì chẳng có ai “xứng đáng” nên ông sẽ đem nghệ thuật này xuống đáy mồ.

Rồi ông than phiền với tôi về những người Mỹ đã quảng cáo các lớp dạy Savate.

“Họ chẳng biết gì hết ngoài cái trò phô trương, quảng cáo – ông nói – họ làm như mình sở trường cái môn võ mà thật ra họ chẳng biết gì hết. Muốn biết, ta chỉ cần nhìn những bộ tấn trong những quyển sách ghê gớm họ viết ra. Một kẻ sơ đẳng về Savate còn thủ tấn đúng hơn họ nữa. Họ sai ngay từ lúc bắt đầu chuyển bộ. Nội thủ tấn cho đúng không, các anh Mỹ này cũng chẳng làm được. Một vài anh đứng tấn, trông cứ thộn như bệnh no hơi không bằng.”

Nói xong ông biểu diễn cho tôi xem ngón nghề. Ông ngồi xổm, đầu gối cong từ vị thế đó, hai chân ông tung đá như chớp nhoáng. Ông lướt đi trên hai đầu gối giữ thẳng, ông nhảy cỡn, quay cuồng. Thế rồi giữa chuỗi động tác ấy, ông tung những cú đá lẹ chưa từng thấy. Một con rắn mổ nhanh 8km/1giờ, một tay quyền Anh giỏi đấm khoảng 40km/1giờ, nhưng tôi phỏng độ những ngọn đá của Fegnier phải nhanh đến 50km/1giờ.

Ông hồi bộ, giải thích cho tôi rõ ràng, môn Savate chuyên về những cú đá hạ đẳng, ông đã phát triển thêm cú đá thượng đẳng như một võ khí đặc biệt. Ông cho rằng mũi và môi là những mục tiêu tốt nhất. Vì tính nhạy cảm của chúng. Ông nhận rằng cú đá thượng đẳng nhằm vào đầu địch thủ có thể nguy hiểm cho người tấn công, nhưng ông thành thật khi nhận xét sức nhanh của ngọn cước ông tung ra mau đến nỗi giá có đá hụt địch thủ, ông vẫn kịp hồi bộ trước khi y phản đòn.

“Tôi không nói khoác đâu” ông bảo, “Savate là môn võ nguy hiểm vô địch. Tôi đã sử dụng môn võ đó trong rất nhiều cuộc chiến đấu với đủ hạng người. Luôn luôn tôi thành công, đó là lý do tôi hơi độc đoán một chút”.

Ông cho tôi ngoạm một quả cà chua chín, và bảo tôi đứng song đối diện với ông ta. Xong ông dặn lúc nào tôi nhận thấy ông nhúc nhích là phải lẹ làng né đầu hay né cả người đi liền.

Ông đối mặt tôi, môi khẽ nở nụ cười. Tôi nhìn chăm vào vai ông chờ đấu hiệu. Tôi cảm thấy một cái gì đó và phản ứng liền, nhưng quá trễ – quả cà chua tung tóe khắp mặt, tóc và mặt tôi, trừ mảnh nhỏ còn dính nơi răng.

Con người ông xuất thủ như chớp xẹt !

Sau đó, ông bảo, ông sẽ cố ý đánh trượt khỏi mũi tôi khoảng hai phân rưỡi, tôi cứ tha hồ phản đòn. Thế là đúng sở trường của tôi rồi. Tôi thường biểu diễn ngón nghề đó khi gặp bất cứ vị võ sư nào. Đó là ngón nghề ấn chứng cho một môn phái. Chúng tôi giao đấu. Lần này tôi cố theo kịp ông. Vừa khi chân ông tung mờ mịt dưới mắt tôi liền vận đủ mười hai thành công lực vào chân phải tung cước ngay hạ bộ ông. Tôi đá lẹ và chính xác nhưng dường như ông vẫn có đủ thì giờ để tắm rửa, cạo râu ! Ông rút chân phải vừa đá xuống, tung chân trái vào xương ống quyển của tôi. Thật là ác liệt một sức mạnh bất kham giáng trên một mục tiêu bất động ! Cú đá ngừng ngay giữa. Một cơn đau mãnh liệt tràn đến, toàn thân tôi đong đưa về trước rồi quỵ xuống gối phải.

Ông làm bộ hỏi. “Có đau không” tôi nhăn mặt, trả đũa lại, “Chỉ khi nào cười mới đau”, ông ta lấy thuốc bóp vào chỗ đau cho tôi, rồi sau một lúc nghỉ ngơi. Ông tiếp tục câu chuyện bỏ dở.

“Không thủ đạo để tâm quá nhiều đến trò chặt gạch, đấm ngói mà quên đi việc tập luyện khả năng đo đường, khoảng cách và xác định vị trí. Bởi vì, ngoài tốc độ ra, những yếu tố đó là chìa khóa mở vào tài năng chiến đấu. Sức mạnh chỉ là thứ yếu. Để tôi biểu diễn cho ngài thấy điều đó!”.

Tôi khập khiễng đứng lên, ông ta lại tiến sát đến. Ông khởi đá vào hai trái tai tôi liên tiếp hai chân. Mỗi ngọn cước đều chớp nhoáng và lướt nhẹ qua trái tai tôi. Tôi thấy thích thú vì chẳng đau đớn gì, nhưng chợt cơn đau xé càng lúc càng tăng. Nó tăng mãi, đau đến không thể chịu được. Ông cứ đá tiếp, lúc đó, hai trái tai tôi tê dại đi không còn cảm thấy gì nữa. Ông bèn dừng lại và nói:

“Như mọi người, ông cũng nghĩ rằng trái tai không mấy nhạy cảm. Nhưng ngay cả những vùng giới hạn đó, ta vẫn gây được tổn thương như thường. Nguyên do nào tôi làm cho ông đau ? Những cú đá đều mạnh ngang nhau. Nhưng, những cú đầu tôi đá vào phần trái tai xa đầu nhất. Khi tôi đá tiếp, lần này nhắm phần trái tai sát với đầu, lúc đó thần kinh mặt của ông bị đau đớn vì cơn đau từ khu thần kinh cảm giác từ trên má qua phần tay trên truyền xuống trái tai. Nhưng cơn đau này không kéo dài lâu, và cả vành tai tê lịm đi. Tôi chỉ muốn làm thế để chứng tỏ rằng ngay đến mục tiêu nhỏ, ta vẫn có thể chia nó làm nhiều mục tiêu nhỏ hơn nữa.”

Thời gian trôi qua. Tôi yêu cầu ông biểu diễn lần chót. Ông nhã nhặn chấp thuận. Ông đốt một điếu thuốc, bảo tôi bập mấy hơi rồi ngậm lên môi. Tôi làm theo, ông tiến đến, nhìn chăm chú điếu thuốc rồi đá thật nhanh.

Ông đá trượt. Bậc thầy bị té xuống đất ăn bụi, thường thì trong trường hợp đó, ta hay ngỏ lời biện hộ dùm ông, trút sự thất bại cho lí do này, lí do khác v.v…nhưng trong thâm tâm, ta lại khoái chí tử. Một kẻ vô địch đã ngã xuống mà ! Tuy nhiên Fegnier không coi đó vào đâu. Ông đứng dậy và mỉm cười. Tôi không hút thuốc, nhưng khoái chí quá cũng bập bập vài hơi.

Thế rồi các bạn biết sao không ? Tôi hít vào chẳng thấy gì cả. Không có lửa. Baron Fegnier đã điều khiển ngọn cước dập tắt điếu thuốc tài đến nỗi tôi không nhận ra. Tôi nhìn điếu thuốc nghi hoặc còn ông ta đứng đó, cười rộ lên.

Khi chia tay nhau, ông nói những lời cuối, “Hãy bảo các bạn hữu của ông quên đi sức lực, và chú tâm trau dồi khả năng đo lường khoảng cách và xác định vị trí. Lúc đó họ mới có thể khá hơn được.

Võ sư JOHN F.GILBEY

Theo maxreading.com

Thông tin cần biết về bạch hạc quyền

Thông tin cần biết về bạch hạc quyền

Bạch hạc tượng trưng cho sự trưòng thọ, tư tưởng siêu thoát, tinh thần phóng khoáng, viên mãn đến độ an nhiên tự tại. Do đó, về mặt tâm linh môn phái này thích hợp với các hành giả muốn tự mình tìm sự giải thoát, tự mình đốn ngộ để quay về với hư không, thanh tịnh.

Thông tin cần biết về bạch hạc quyền

Thông tin cần biết về bạch hạc quyền

Bạch hạc quyền xuất xứ từ Thiên Trúc và có thể được coi là một trong những môn công phu cổ truyền nhất từ xưa đến nay trong những tuyệt kỹ chánh môn của Thiếu Lâm Quyền. Tuy nhiên, không giống như trường hợp môn phái Ðường Lang đươc lưu truyền rộng rãi trong nhân gian bởi nhiều nhà, nhiều nhánh, Bạch hạc được truyền thừa theo một nhánh duy nhất khởi đi từ các vị Lạt ma, đến đời Bồ Ðề Ðạt Ma và cuối cùng nơi Thiếu Lâm Tự.

Lịch Sử

Cũng như các môn phái khác, hạc quyền về sau cũng chia ra nhiều ngành, nhiều phái, nhưng tựu trung chỉ có ba hệ phái trổi bật nhất là: Hồng hạc, Thanh hạc và Bạch hạc. Tính cách của ba hệ phái này thoạt nhìn thì như nhau nhưng chiến thuật thì khác biệt và hệ thống luyện tập cũng hoàn toàn khác biệt. Hồng hạc luyện tinh, chủ trương xử dụng chỏ, cước và gối, rất được ưa chuộng bởi môn phái Thiếu Lâm Hồng quyền của nhóm Hồng Hy Quan; Thanh hạc chuyên luyện khí, sở trường về cánh và mỏ; Bạch hạc luyện thần, cá tính độc lập, chuyên xử dụng cả cước, cánh lẫn mỏ, hệ phái này đến nay hầu như đã bị thất truyền.

Bạch hạc tượng trưng cho sự trưòng thọ, tư tưởng siêu thoát, tinh thần phóng khoáng, viên mãn đến độ an nhiên tự tại. Do đó, về mặt tâm linh môn phái này thích hợp với các hành giả muốn tự mình tìm sự giải thoát, tự mình đốn ngộ để quay về với hư không, thanh tịnh.

Chiến Thuật

Bạch hạc là một trong những loài chim có họ với sếu được tìm thấy nhiều ở Ðông Nam Á, tiêu biểu là giống Grus antigone, đầu và cổ có điểm lông đỏ. Loại này cổ dài, chân dài, hình dáng thướt tha, dáng đi mềm mại uyển chuyển. Mỏ hạc dài, nhọn, cứng, thường được xử dụng như một thứ vũ khí bén nhọn để tấn công vào những yếu huyệt của đối phương. Khi lâm chiến, vì hình tướng mảnh khảnh, lêu nghêu dễ bị tập kích từ nhiều góc độ, nhờ khả năng thiên phú hạc dùng chiến thuật di thân (Bạch hạc dạ hành) để giữ khoảng cách an toàn giữa mình và đối thủ. Cánh hạc thường được xử dụng đề ngăn chặn, đánh phá, hoặc được bung ra một cách chớp nhoáng để tấn công đối phương, đồng thời những móng vuốt cũng được sử dụng một cách hữu hiệu cho việc phòng ngự.

Mô phỏng theo cá tính của hạc, môn đồ môn phái Bạch hạc thường xử dụng hai thủ pháp căn bản: mỏ hạc và cánh hạc. Mỏ hạc được hình thành bởi ngón cái và bốn ngón tay chụm chặt vào nhau rất thuận tiện khi cần tấn kích những mục tiêu gần và mềm như mắt, màng tang, nhân trung, yết hầu. Cánh hạc là hai cánh tay hành giả vươn dài hoặc thu ngắn theo những động tác mềm mại, thuận ngược, dùng để tấn công một cách liên tục (liên khúc) vào tay, chân, thân thể đối phương, khiến đối phương tê liệt hoặc lâm vào trạng thái bối rối, mất thăng bằng, từ đó để hở ra những nhược điểm, đây chính là lúc hạc dụng kình lực để triệt tiêu đối thủ.

Song song với những sở trường nêu trên, cước hạc cũng không kém phần lợi hại. Mục tiêu công kích có thể kể từ đầu cho đến hạ bộ của đôí phương. Thí dụ như ngọn Kim Tiêu cước, được bung ra thật nhanh như ánh chớp trong một khoảng cách rất gần, cộng với trọng lượng toàn thân đủ để nghiền nát nội tạng hoặc gây nên nội thương trầm trọng cho đối thủ. Hoặc qua thế Bạch Hạc Tùng Diệp, nhất cử nhất động của đối phương đều không thoát ra khỏi vòng kềm toả của bộ chân hạc. Có được diễm phúc nhìn chân sư thi triển cước pháp nói trên hành giả mới nhận thấy rằng người xưa vốn thâm thúy: hình ảnh đó có khác nào hình ảnh gót hạc bước nhẹ trên những lá vàng rơi rớt trước ngọn thu phong? Rồi những thế Bạch Hạc Ðằng Vân, Bạch Hạc Quá Hải, Bạch Hạc Quy Sào, Bạch Hạc Phân Thủy, đều mô tả rõ ràng, tỉ mỉ cá tính linh hoạt của bạch hạc quyền và bạch hạc cước pháp để ta thấy rằng hạc tuy khoan thai, mềm mại, thanh thoát, nhưng khi lâm chiến nó trở nên lạnh lùng, bình thản trực diện, khống chế và triệt hạ kẻ thù.

Nguyên nhân nào khiến hạc từ một hình ảnh lãng đãng, phiêu bồng, chập chờn, ẩn hiện của cõi đào nguyên, tiên cảnh, lại có thể có một bản năng dị thường như thế? Thưa: vì hạc vốn tính không. Cái không đây là cái không của sự giải thoát, của vô ý sinh, vô ý niệm, của tư tưởng dứt khoát, của sự thoát ly, của cái có, của cái không, và đến cực điểm của không là không tính. Quan niệm, tri kiến là do ta tạo ra chứ không phải ở hạc, vì hạc vốn không làm chủ lấy mình. Nhờ tánh không làm chủ lấy mình nên hạc nghiễm nhiên đạt được không tính, vì không nên chứa đựng được vạn pháp, và vì không nên bao trùm cả cá tính… Có tánh thì ắt có không gian, thời gian. Không gian, thời gian rồi cũng sẽ qua đi, sẽ bị hủy diệt. Không tính thì bàng bạc, trường cửu như Ðạo: vô thủy, vô chung.

Ðường lối của hạc dạy người thấy được cái không tánh của mình. Ta có sở đắc, ta cho hạc sở đắc, hạc nhận và có sở đắc, không thành có. Nhưng hạc biết khi có sở đắc nó sẽ mất đi, có thành không, nên hạc chẳng buồn bám trụ, vui ở, buồn đi..

Nhạn quá hà dàm, nhạn vô lưu ảnh.

Nhạn lướt qua mặt hồ không buồn để lại hình bóng mình. Âm hưởng câu thơ trên thấp thoảng hình ảnh hạc trong lời Ðường thi của Thôi Hiệu:

Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản

Bạch vân thiên tải không du du.

Hạc đã khuất, sao ta mãi như gợn mây trời nghìn năm thẫn thờ trôi? Vì ta khi có sở đắc thì ta lại trụ, trụ đây là bị mất chứ không phải có! Mất trong sự hiểu biết nông cạn của lý trí, dĩ nhiên là ta mất luôn vì lẽ sự hiểu biết vốn dĩ sẵn hạn hẹp. Còn hạc, vốn không biết, vừa mới biết đã mất, thì cái mất đây là cái mất hoà nhập theo sự trường cửu của muôn trùng vũ trụ.

Hệ Thống Luyện Tập

Khi mới nhập môn, thầy bắt các môn sinh phải tập đứng một chân. Có người thắc mắc hỏi: ‘Thưa thầy, sao chúng con có hai chân mà thầy lại bắt đứng bằng một ?’. Thầy đáp:’ Sau này khi ra đấu, mình có hai chân, địch thủ đá gẫy mất một. Ðể quen thuộc dần với cái mất mát đó, hạc bắt mình phải đi vào tử trước đã, khi vào chỗ bí tử, trong cái thuật không có đó, nó sẽ có. Nó có sau khi người ta tạo cho nó có, mà vốn nó không có!’ Môn đồ hạc quyền không tính toán, đo lường ở bất cứ trạng huống nào thì lúc đó không tánh mới hiện ra.

Khi giao chiến với địch, hạc mang tâm mình ra phân tranh thì hạc nhập vào cái cảnh giới ngũ hành để đối chất với quyền pháp, nhưng đây chỉ là cảnh giới giả của hạc vì hạc biết hạc có đó, nhưng nó sẽ mất cái có đó nên hạc chuẩn bị cho cái không. Từ chỗ không có này, chẳng còn cảnh giới nào đối với hạc. Chân lý của hạc là không, không đây không phải là do trí tưởng mà ra, nhưng không đây là không có gì mà ta phải lo lắng thái quá! Chân lý này đơn giản đến độ ta gọi nó là cái chân tánh của mình. Kẻ nào chạm đến cái chân tánh của mình, thì mình nghĩ gì có nấy. Ðây chính là phép Bà La mật hiện hữu. Sắc tự chân không, không tự chân sắc.

Ðường lối luyện tập này hướng dẫn môn sinh đi, đứng, ngồi, tịnh, đều là không cả. Khi ta ngồi, ta tưởng ta tịnh, nhưng thật ra ngồi vậy nhưng không phải là tịnh, nhưng thật ra đã tịnh rồi đó! Tựa như người cầm la bàn đi tìm phương Bắc, nhưng thật sự mình đang ở hướng Bắc thì còn tìm đâu nữa? Hạc quyền chủ trương đốn ngộ lúc đầu còn hơn để sau này bị vướng trụ. Môn đồ phải học và luôn ghi nhớ hai điều: có không, và bỏ. Không mong cầu hay hoặc giỏi vì hạc dậy mình rằng là đang học đó, có đó, bỏ đó, cho đó, hiện đó, còn đó rồi mất đó. Ðiều khó nhất của hạc quyền là vừa học vừa xóa, xóa đây không có nghiã là xóa bỏ tất cả, nhưng có nghiã là xóa bỏ tất cả để tìm về cái gốc ban đầu tựa như nhà Phật nói rằng: Sinh tử, luân hồi’. Kinh thánh cũng dậy ta rằng:’Kẻ nào vả vào má bên trái ngươi, hãy đưa luôn má bên phải cho nó đánh!’ Khi thực thi được điều này, thì tự nhiên ta có hai lần có. Hai lần giải thoát trong cái có của ta đó gọi là:’Tam tài giả’ sẽ giúp ta giác ngộ. Ðây là phương thức để ta luyện tánh không. Khi ta không thì năng lực sẽ đến với ta. Năng lực này ở chỗ không có nhưng vốn hằng có, cái có này thật sự hiện hữu. Từ chỗ hiện hữu này, chính mình giải thoát lấy mình bằng lòng bác ái, tính vị tha và tư tưởng từ bỏ.

Bạch Hạc Khí Công

Khi đã hiểu cá tánh của hạc rồi, hành giả bắt đầu tạm dùng hơi thở để luyện thần, tạm thôi, vì đối với hạc không có gì là chính mà cũng chẳng có gì là phụ. Hơi thở thanh lọc tư tưởng, tư tưởng dẫn khí, khí dưỡng thần. Thần khí có thể kết tụ ở đôi mắt, thần khí có thể kết tụ ở tay chân hoặc khi tư tưởng vượt ra ngoài phạm vi hữu hạn của thân xác thì đó chính là lúc ta chạm, bắt được không gian ba chiều, không gian của sự giác ngộ: có hay không.

Ðây là lý do môn đồ Bạch hạc thường luyện thần trước gương dưới ánh sáng mờ ảo của ngọn bạch lạp. Ta thấy ta đó, nhưng chưa hẳn là ta mà là bóng. Bóng và hình phân tranh, tiến thối, đến một lúc nào đó không còn bận tâm phân biệt thật giả, không còn vướng trụ thì đạt đến cảnh giới của tâm thức an định. Tâm thức an định thì thần thức (tư tưởng) an nhiên tự tại. Thần thức an nhiên tự tại thì sẽ cai quản được mình, cai quản những đường kinh khí, lục phủ ngũ tạng, vì tư tưởng đi dến đâu thì khí đến đó – khí là sự trôi chảy liên tục của tư tưởng, khi tư tưởng bế tắc thì khí nghẽn – Khi thần thức cai quản được thân thì sẽ điều động được thân tâm, đưa đến chỗ rợp ràng, thân thủ tích cực liên quán. Một khi đã làm chủ được thần thức thì vào toàn khâu, ra toàn khâu. Cá tính của hạc là vào toàn khâu, ra toàn khâu. Vào được toàn khâu, ra được toàn khâu đó mới chính là bỏ.

Kết

Chân sư là những người đã giác ngộ, thấy được những gò bó quanh mình nên các vị đã mượn hình ảnh độc lập, an nhiên tự tại và tư tưởng nhất quán của hạc để giúp hậu thế chiêm nghiệm và tu luyện. Kiến thức, công phu, hạnh nguyện, quan niệm, là những hành trang cho hành trình hoàn nguyên của chúng ta. Tất cả đều cần thiết, nhưng nếu không biết cách hóa giải chúng bằng cách coi chúng có như không, thì chúng sẽ trở thành những ràng buộc cản trở chúng ta trên tiến trình tu tập.

Theo maxreading.com

Thông tin cần biết về “Võ bùa”

Thông tin cần biết về "Võ bùa"

Sau màn ra mắt vào những năm 80 của thế kỷ trước, võ bùa bỗng dưng mất hút một cách khó hiểu trên “chốn giang hồ”. Không ai biết đệ tử của võ bùa ở đâu, hiện đang sống như thế nào, còn lao tâm khổ tứ tập luyện hay không?

Thông tin cần biết về "Võ bùa"

Thông tin cần biết về “Võ bùa”

Vào đầu những năm 80 của thế kỷ trước, làng võ Việt xôn xao bởi sự xuất hiện của một phái võ kỳ lạ, gọi là “võ bùa” hay “thần quyền”. Người theo môn võ ấy không cần luyện tập quyền cước mà chỉ cần thổi hương, uống bùa, gọi thần chú là có sức mạnh muôn người khôn địch…

Bởi cách thức có phần thần bí đó mà nhiều môn phái khác đã tìm các lò dạy võ bùa để tìm hiểu thực hư, phân tài cao thấp. Sự “truy sát” ấy, cùng nhiều lý do khác nữa nên chỉ ít thời gian sau, võ bùa phải lui vào ẩn dật.

Gần đây, trước sự nở rộ trở lại của phong trào học võ, lại có lời đồn võ bùa đang “tái xuất giang hồ”. Chúng tôi đã đi tìm hiểu thực hư xung quanh môn võ này.

Cao nhân ẩn tích

Sau màn ra mắt vào những năm 80 của thế kỷ trước, võ bùa bỗng dưng mất hút một cách khó hiểu trên “chốn giang hồ”. Không ai biết đệ tử của võ bùa ở đâu, hiện đang sống như thế nào, còn lao tâm khổ tứ tập luyện hay không?

Gần đây, một lần lang thang trên mạng, tôi tình cờ đọc được thông tin của một môn sinh “chánh phái” nói rằng, trước đây có hai cao thủ phái Thất Sơn đem võ bùa về dạy ở Hà Nội và chính họ là những sư phụ đầu tiên của môn phái ở đất Kinh kỳ. Thông tin trên mơ hồ, chỉ nói người thứ nhất tên Thành, làng võ vẫn gọi là Thành “vuông”, người thứ hai tên là Chín, giang hồ gọi là Chín “cụt”.

Liên hệ với một số cao thủ võ lâm ngoài Bắc thì được biết, Thành “vuông” tên đầy đủ là Nguyễn Văn Thành, từng sống ở khu vực Ô Chợ Dừa (Hà Nội), giờ đã qua Nga lập nghiệp. Người thứ hai là Chín “cụt”, tên đầy đủ là Ngô Xuân Chín, là thương binh, hiện không biết phiêu dạt phương nào.

Thông tin trên làm tôi nhớ lại lần trò chuyện với võ sư Chu Há, Chủ nhiệm võ đường Hồng Gia. Võ sư Há cho biết, thủa trước, Chín “cụt” có tham gia một số phong trào thể thao của người khuyết tật và ngay từ buổi đầu tiên ấy, Chín cùng đệ tử đã từng dùng võ bùa để giành huy chương vàng một hội khỏe năm 1986.

Nhờ manh mối này, tôi vội tìm đến ông Vũ Thế Phiệt, Tổng Thư ký Hiệp hội Thể thao người khuyết tật Việt Nam. Từ số điện thoại ông Phiệt cho, tôi đã tìm được “cao nhân” ẩn tích bấy lâu nay – ông Chín.

Phận duyên tiền định

Vợ chồng ông Xuân Chín hiện đang sống ở một khu đô thị yên ả trên đường Lạc Long Quân (Hà Nội). Trò chuyện, Xuân Chín bảo, Thất Sơn thần quyền với ông như có duyên trời định.

Thời trai trẻ, Chín là lính trinh sát đóng quân ở tỉnh biên giới Cao Bằng. Khi còn ở quê nhà, bởi hiếu động nên Chín từng theo đám trai làng lăn lộn học quyền cước của mấy võ sư vườn, cũng lận lưng dăm ba miếng phòng thân. Bởi thế, khi hay tin trong trung đoàn có một đồng đội thường diễu quyền, phóng cước sau khi xong xuôi việc nhà binh, Chín muốn tìm đến xem “mặt mũi” thế nào và nhân thể thử tài luôn để phân cao thấp.

Sau nhiều lần hò hẹn, “thằng cha” đó cũng nhận lời thách đấu. Thế nhưng sau 2 lần “tỉ thí”, Chín đều thua không kịp vuốt mặt. Chín đấm, đá cật lực mà cứ như đánh vào bị bông, đối thủ chẳng hề đổi thay sắc mặt. Đánh nhiều đuối sức, chùn tay, nên đành phải xin thua.

Từ sau trận quyết đấu đó, hai người trở thành bạn. Lúc này Chín mới biết người kia theo học Thần quyền của phái Thất Sơn, từ một sư phụ ở quê nhà, xã Văn Khúc, huyện Sông Thao, tỉnh Phú Thọ. Những câu chuyện mà người bạn kể về môn phái lạ lùng đã khiến Chín mê mệt. Anh ước ao có ngày được về quê bạn bái vị sư phụ ấy làm thầy.

Và rồi cái ngày anh mong mỏi ấy cũng đến. Được sự giới thiệu, ngay đêm hôm ấy, anh đã được diện kiến kỳ nhân. Người ấy là danh sư Nguyễn Văn Lộc, một nông dân chân chất, cũng chỉ hơn anh cỡ trên chục tuổi.

Thế nhưng hôm ấy, ý nguyện, mơ ước của anh đã không thành. Dù đã cố nài nỉ hết nước hết cái nhưng vị danh sư ấy vẫn không chịu thu nạp Chín làm đệ tử. Tuy mưu sự không thành nhưng anh vẫn không thôi hi vọng của mình.

Chừng tháng sau, anh lại tay nải từ Cao Bằng tìm về Phú Thọ. Lần này, thứ mà anh nhận được vẫn chỉ là những cái lắc đầu. Thế rồi, một lần (năm 1981), lúc đi làm nhiệm vụ, anh bị thương phải cắt bỏ hoàn toàn chân phải. Khi vết thương liền da, nhớ miền quê Văn Khúc và ông thầy võ… khó tính, anh lại lóc cóc tìm về.

Đi cùng anh lần này có cả Thành “vuông”, một chàng trai Hà Nội, nghe tiếng vị sư phụ kỳ lạ mà háo hức muốn được tỏ tường. Gặp mặt, vị danh sư nói thẳng thừng: “Anh lành lặn tôi còn không nhận, huống chi nay đã là người tàn phế! Anh không học võ được đâu!”. Câu nói đó đã làm ruột gan Chín quặn thắt. “Đau” hơn khi bạn đồng hành với anh, Thành “vuông”, lại được sư phụ thu nạp.

Uất ức, trước khi ra về anh… thề: “Sư phụ nhận tôi thì 6 tháng tôi xuống một lần! Không nhận thì tháng nào tôi cũng xuống!”. Tháng sau, một mình, anh xuống thật. Lần này, thấy anh lóc cóc chống nạng vượt quãng đường hơn 15 cây số, vị danh sư đã động lòng trắc ẩn. Ông đã đồng ý truyền võ cho anh nhưng với điều kiện chờ ngày tốt, về Bắc Giang ông mới dạy.

Võ phái kỳ lạ

“Ngày tốt” ấy là ngày 9/10/1984. Đã hẹn trước, anh Chín có mặt tại nhà một người quen của sư phụ ở làng Mỹ Độ, sát thị xã Bắc Giang. Đến được ít phút thì sư phụ anh cũng xuất hiện. Ngay chiều hôm ấy, anh đã thành người của phái Thất Sơn. Cũng ngay ngày hôm ấy, anh mới tường tận về môn phái của mình.

Theo lời thầy Lộc thì “thủ phủ” của Thất Sơn thần quyền nằm ở Huế, do tông sư Nguyễn Văn Cảo nắm quyền chưởng môn. Sáng tổ Nguyễn Văn Cảo học thần quyền từ một vị cao tăng người Ấn Độ. Cao tăng lưu lạc sang Việt Nam từ khi nào thì đến giờ vẫn không ai biết rõ. Tới Việt Nam, ông chọn vùng Bảy Núi (An Giang) làm chốn tu hành. (Có lẽ bởi bậc thánh nhân tu luyện nơi non thiêng này nên thầy Cảo đã đặt tên môn phái của mình là Thất Sơn).

Dựa trên những căn bản mà vị tu sĩ lạ lùng ấy truyền dạy, thầy Cảo đã truyền dạy thần quyền cho nhiều người khác. Thần quyền học nhanh, do vậy chỉ trong thời gian ngắn, ở Huế đã có rất nhiều người trở thành môn đồ của võ phái này.

Khi nhập môn, môn đồ của môn phái phải đứng trước ban thờ thề đủ 9 điều (Càng học cao thì số lời thề càng tăng thêm và cao nhất là 16 điều). Sau đó, mỗi người sẽ được sư phụ mình phát cho hai lá bùa hộ thân, một vuông, một dài. Trên những lá bùa ấy có vẽ hình đạo sĩ ngồi thiền và những “thông số”, “mật mã” riêng của môn phái.

Trước khi truyền thụ những câu thần chú, bí kíp võ công của môn phái thì hai lá bùa ấy được đem đốt, lấy tro hoà vào nước cho người mới nhập môn… uống cạn. Thần chú của môn phái thì có rất nhiều, gồm chú gồng, chú xin quyền, chú chữa thương… Đã được truyền thần chú thì môn sinh cứ tự mình gọi chú mà xin sức mạnh, mà tập quyền cước.

Tuy thế, trước khi tập, người luyện thần quyền phải được sư phụ mình khai thông tất cả các huyệt đạo trên cơ thể. Việc ấy, các sư phụ của Thất Sơn thường làm bằng cách dùng nắm nhang đang nghi ngút khói thổi vào huyệt đạo của đệ tử. Với môn sinh là nam giới thì dùng 7 nén nhang thổi 7 lần vào mỗi huyệt đạo. Môn sinh là nữ thì dùng 9 nén, thổi đúng 9 lần.

Thần chú vào… võ công ra

Anh Chín kể, hôm ấy, xong nghi thức nhập môn, sư phụ Lộc đã kéo anh ra sân và chỉ trong vòng 1 giờ đồng hồ, ông đã truyền thụ xong xuôi cho anh lời chú xin quyền.

Theo lời của sư phụ Lộc, lời chú ấy anh không được phép tiết lộ cho bất kỳ ai nếu chưa được phép của những người đứng đầu môn phái. Truyền chú xong, sư phụ anh bảo, cứ nhẩm theo câu chú ấy mà luyện. Chú “nhập” đến đâu thì công phu tự khắc… ra đến đó.

Thấy thầy dạy mình quá nhanh, anh hết sức ngạc nhiên. Cứ nghĩ, có lẽ bởi gượng ép khi thu nạp nên thầy Lộc mới dạy anh một cách sơ sài đến vậy. Sau này, khi trình độ bản thân được nâng cao, anh mới biết, với anh cuộc truyền thụ kỹ năng cơ bản của môn phái như vậy là quá lâu.

Thường thì khi truyền chú cho đệ tử khác, thầy Lộc chỉ làm trong thời gian vỏn vẹn 15 phút là xong. Anh cũng vậy, khi được phép dạy đệ tử, anh cũng chỉ mất ngần ấy thời gian là đã… hết bài. Còn học như thế nào, luyện như thế nào, trình độ đạt đến đâu là cơ duyên của mỗi người chứ thày không chỉ bảo được.

Ngay chiều hôm ấy, thầy Lộc đã kéo anh ra khoảng sân rộng, bắt đầu luyện tập quyền pháp. Trước khi tập, thầy lấy nắm nhang nghi ngút khói thổi vào tất cả những huyệt đạo trên cơ thể anh. Làm xong, thầy bảo anh nhẩm đọc chú để… gọi võ về. Thật ngạc nhiên, khi vừa đọc chú xong, anh bỗng thấy mình lâng lâng như người say rượu. Lúc thì thấy tay mình nhẹ bẫng, lúc thì thấy nặng như đang khuân cả khối sắt trăm cân.

Chín kể, khi đã “nhập đồng”, cứ thấy nhẹ bên tay nào là “chưởng” đánh ra tay ấy. Trạng thái không kiểm soát ấy đã khiến anh lúc thì lăn lộn trên đất, lúc thì nhảy tưng tưng trên không, lao đầu vào tường, vào bụi gai cũng không hề hay biết.

Tỉ thí tranh tài

Hết nghỉ phép, Xuân Chín về nơi an dưỡng. Vì đang chờ chế độ nên anh có nhiều cơ hội để luyện tập môn võ mà mình vừa được học. Cứ đêm đến, anh lại một mình chống nạng lên quả đồi ở gần đó luyện tập. Sáu tháng sau, anh quay lại Văn Khúc để thầy Lộc kiểm tra “trình độ”.

Sau bữa cơm chiều, thầy Lộc bảo ông sẽ không trực tiếp kiểm tra mà nhờ thầy “cao tay” hơn thẩm định. Vị ấy tên Cư, ở bến phà Tình Cương, cách nhà thầy Lộc chừng 25 cây số. Thần quyền ở Văn Khúc chính là do ông Cư mang từ trong Huế ra truyền dạy.

Tối hôm đó, hai thầy trò đã đèo nhau đến nhà ông Cư. Biết Chín muốn thử trình độ của mình, ông Cư đã gọi hai đệ tử to như hộ pháp đến. Trước khi đánh, ông Cư giới thiệu, hai đệ tử của ông được gọi là những “cây đấu” của Thất Sơn. Những ai muốn “khẳng định thương hiệu” của riêng mình thì đều phải đánh với hai “cây đấu” ấy.

Ngay phút khởi động, một “cây đấu” đã táng thẳng vào mặt Chín cú “thôi sơn” khiến anh nổ đom đóm mắt. Nhưng ngay sau cú đánh ấy, anh thấy mình tự dưng lùi ra, quay hẳn lưng vào đối thủ. Chẳng cần để mắt động tác khó hiểu của anh, người tấn công lại ngay lập tức lao vào. Thế nhưng, vừa vào gần đến nơi thì bỗng nhiên tay phải Chín vung ra một cú đòn cực mạnh. Một tiếng “bốp” chát chúa vang lên, “cây đấu” ấy bị đánh văng ra góc sân và nằm bất động.

Thấy đệ tử mình bị hạ nhanh một cách khó hiểu, ông Cư vội vàng chạy đến xem thực hư thế nào. Cậu học trò cưng nằm im, mồm miệng be bét máu. Phần thắng đã thuộc về Chín.

Sắp xếp công việc, ít lâu sau, anh Chín lại theo thầy Lộc vào Huế để nhờ tông sư môn phái kiểm tra trình độ thật sự của mình. Chưởng môn phái Nguyễn Văn Cảo (phường Phú Cát) đã đón hai thầy trò anh rất thân tình.

Hôm ấy, nhà thầy Cảo có một đệ tử học Thần quyền được 10 năm, từ Quảng Bình vào thăm. Thầy Cảo bảo Chín đấu với người này. Kịch bản của trận đấu ở Phú Thọ đã được lặp lại. Vào trận, ngay màn dạo đầu, Chín dính đòn tới tấp. Thế nhưng, trong lúc nguy nan, tự nhiên anh thấy chân mình mềm oặt. Xoay lưng lại đối thủ, anh quỳ xuống như người bị trúng đòn chí mạng. Đối thủ thấy vậy thừa thắng lao lên…

Nhưng, như có phép tiên, dù chỉ còn mỗi chân trái mà anh vẫn bật vút lên, lộn trên không một vòng rồi tung cú “thiết cước” vào thẳng bụng đối thủ. Cú đá ấy đã làm vị kia văng ra, thầy Cảo ngay lập tức cho dừng trận đấu. Sau trận đấu đó, bởi quá khâm phục sự tiến bộ kỳ lạ của anh, thầy Cảo đã cân nhắc để anh được thăng đai vượt cấp.

Thế nhưng, điều đó chưa từng có tiền lệ trong môn phái nên thầy đành để anh ở đai đỏ xuất sư. Người đeo đai đó thì đã có thể làm thầy, truyền thụ võ công cho những môn sinh khác. Sáu tháng sau, vào lại Huế, lần này chưởng môn Nguyễn Văn Cảo đích thân ra chợ mua chỉ về se đai tím cho anh.

Dựng nghiệp bất thành

Rời quân ngũ, anh Chín về quê sinh sống, thỉnh thoảng ra Hà Nội gặp gỡ bạn bè. Những năm ấy, phong trào chấn hưng võ thuật cổ truyền ở thủ đô đang ở cao trào, thấy Thất Sơn thần quyền của mình chưa có một tên tuổi trong làng võ Việt, anh và một số người bạn đã quyết tâm gây dựng môn phái.

Để khẳng định sức mạnh của Thần quyền, Hội khoẻ Phù Đổng năm 1986 được tổ chức ở Hà Nội, các bạn anh đã tiến cử anh tham gia. Chuẩn bị cho sự kiện này Chín đã lặn lội lên Cao Bằng, tìm cậu bé mà trước đây anh đã ngẫu hứng truyền thụ võ công, đưa về Hà Nội cùng mình biểu diễn. Cậu bé ấy tên Điệp, khi ấy vừa tròn 6 tuổi.

Tại sân vận động Hàng Đẫy, với tiết mục thần quyền của mình, hai thầy trò một tàn phế, một tóc còn để chỏm đã dinh về hai tấm huy chương vàng trước sự trầm trồ, thán phục của mọi người.

Sau màn ra mắt, được sự “chỉ đường mách lối” của cố võ sư Đỗ Hoá, anh cùng các bạn đã tìm đến một chức sắc ở Hội Võ thuật cổ truyền Hà Nội nhằm đưa môn phái “phát dương quang đại”. Thế nhưng, nhiều người cho rằng Thất Sơn thần quyền là tà thuật, mê tín dị đoan nên mong ước của anh đã không thể thành hiện thực.

Dựng phái không thành, anh em tan rã mỗi người một nơi, Xuân Chín đâm nản. Tuy thế, sau này, tham gia phong trào thể thao người khuyết tật, anh vẫn đem thần quyền đi biểu diễn ở khắp nơi.

Năm 2004, tại một cuộc liên hoan võ thuật tại Hàn Quốc, anh đã được ban tổ chức trao tặng huy chương vàng cho tiết mục thần quyền độc đáo của mình. Càng hạnh phúc hơn khi ngay sau đó, hình ảnh của anh, một người cụt chân đang thăng hoa cùng quyền thuật đã được ban tổ chức in lên lịch lưu niệm tặng các vận động viên tham gia.

Cũng từ dạo ấy, bởi cuộc mưu sinh anh đã thôi không tham gia phong trào thể thao nữa. Thần quyền anh cũng ít tập hơn và cũng không truyền dạy bí kíp võ công này cho bất kỳ ai…

Theo maxreading.com

Thông tin cần biết về một số nền võ học trên thế giới

Thông tin cần biết về một số nền võ học trên thế giới

Danh sách các nền võ học trên thế giới được liệt kê (chưa đầy đủ) ở đây theo thứ tự ABC.

Thông tin cần biết về một số nền võ học trên thế giới

Thông tin cần biết về một số nền võ học trên thế giới

Ấn Độ

Trong khi các võ phái tại các nước châu Á khác (Nhật Bản, Trung Quốc, Việt Nam v.v.) thường thừa nhận ảnh hưởng từ võ thuật Trung Hoa, thì giới võ lâm Trung Hoa lại thừa nhận võ thuật của mình nguyên khởi từ Ấn Độ

· Kalaripayattu: hệ phái võ thuật tương truyền đã có lịch sử rất lâu đời hàng vạn năm.

· Vajra Mushti

· Varma Kalai

· Kuttu Varisai

· Silambam

· Adithada

· Thang Ta

· Gatka

Brasil

· Capoeira

· Brazilian Jiu-Jitsu

Campuchia

· Bokator

· Pradal Serey

Đức

· Kampfringen

Indonesia

· Pencak-Silat

Israel

· Krav Maga

Gruzia

· Khridoli

Hoa Kỳ

· Close Quarters Combat

Lào

· Muay Lao

· Ling Lom

Malaysia

· Silat

· Tomoi

Myanma

Võ của Myanma thường được gọi chung là Thaing (bao gồm cả võ tay không và binh khí), cũng được gọi là Bando (tuy nhiên Bando lại còn có tên là một bộ môn riêng trong nền võ Myanma: môn nhu quyền), cho nên Thaing là tên gọi võ thuật bao quát và chuẩn xác nhất đối với đất nước này.

· Bando (nhu quyền): Là trường phái gắn chặt với các đặc điểm tấn pháp, thân pháp, kỹ thuật phòng thủ và tránh né, các thế tấn công thường tượng hình theo các loài thú: trư công (lợn), ngưu công (trâu), độc xà công (rắn độc), lục xà công (rắn lục), lộc công (hươu), hầu công (khỉ), ưng công (chim ưng), báo công (báo), hổ công (hổ), mãng xà công (rắn).

· Leithwei (cương quyền), còn gọi là Miến quyền (Burmese Boxing)

· Naban (võ vật), chỉ xuất hiện trong các bộ tộc người Chin và Kachin thuộc vùng Himalaya.

· Banshay (binh khí), ba loại cơ bản là côn, thương và kiếm.

Nga

· Systema

· Sambo

Nhật Bản

Nhật Bản có truyền thống thượng võ lâu đời do những cuộc nội chiến liên miên, mặc dù quốc gia này trong suốt trường kỳ lịch sử chưa hề bị xâm lược và đô hộ bởi ngoại bang ngoại trừ giai đoạn ngắn ngủi các samurai phải đương đầu với đội thủy binh hùng mạnh của Mông Cổ. Nhiều hệ phái võ thuật Nhật Bản đã lừng danh thế giới như:

-Jujutsu

o Judo

o Aikido

-Koppo

-Ninjutsu

-Sumo

-Karate

-Shooto

-Kendo

-Kenjutsu

-Iaijutsu

-Sōjutsu

-Naginatajutsu

-Kyudo

-Shorinji Kempo

Pháp

· Savate

· La canne

· Lutta corsa

Philippines

· Eskrima

Thái Lan

Muay Thai.

Thái Lan nằm trên bán đảo Đông Dương, chịu ảnh hưởng của Phật giáo và nền văn hóa Ấn độ, phong kiến Trung quốc. Nền võ thuật nước này chịu ảnh hưởng nhiều của võ thuật Trung Quốc và Ấn độ, tuy nhiên khi người phương Tây đến đây, dấu ấn lớn nhất để lại là môn Muy Thai, nó hơi giống như Kick box của người phương tây nhưng lại có nét đánh phù hợp của người phương đông.

· Muay Thai (Quyền Thái)

· Muay Boran

· Krabi Krabong

Trung Quốc

Trước kia trong đồng đạo võ lâm thường tôn vinh “bát đại môn phái” (Thiếu Lâm, Võ Đang, Nga Mi, Côn Luân, Không Động, Thanh Thành, Hoa Sơn, Toàn Chân) hoặc “thất đại môn phái” (Thiếu Lâm, Võ Đang, Nga Mi, Côn Luân, Không Động, Thanh Thành, Hoa Sơn) võ thuật Trung Hoa, trong đó Võ Thiếu Lâm được đề cao là ngôi sao Bắc đẩu. Gần đây nhất, trong cuốn Võ thuật thần kỳ của Trịnh Cần và Điền Vân Thanh, Trung Quốc, bản dịch được Nhà xuất bản Hà Nội, H. 1996 xuất bản, các tác giả khẳng định Trung Hoa bao gồm không dưới 500 võ phái khác nhau, trong đó nổi tiếng nhất là những phái chính:

· Tượng Hình Quyền

· Thái Cực Quyền

· Võ Đang Quyền

o Nội Gia Quyền

o Bát Quái chưởng

… … …

· Thiếu Lâm Quyền

o Trường Quyền (Bắc Quyền) (Bắc Thiếu Lâm)

§ Tra Quyền

§ Hóa Quyền

§ Hoa Quyền

§ Pháo Quyền

§ Trốc Cước

§ Đàm Thoái

§ Phách Quải Quyền

§ Thông Bối Quyền

§ Phiên tử Quyền

§ Bát Cực Quyền

§ Yến Thanh Quyền còn gọi là Mê Tông Quyền hay Mê Tung Quyền

§ Hình Ý Quyền còn gọi là Lục Hợp Quyền (Phái Thiếu Lâm Vy Đà)

§ Ðường Lang Quyền

§ Ưng Trảo Quyền

… … …

·

o Nam Quyền (Nam Thiếu Lâm)

§ Hồng Gia Quyền

§ Bạch Hạc Quyền

§ Bạch Mi Quyền

§ Vịnh Xuân Quyền

§ Phật Gia Quyền

§ Thái Lý Phật

§ Châu Gia Quyền

… …

Các bộ môn quyền thuật trên trong khoảng 500 võ phái của khắp miền Nam Bắc Trung Hoa chính là xuất phát từ trong dân gian sau này được các môn đồ của Thiếu Lâm tích hợp vào hệ thống Thiếu Lâm Quyền và biến nó thành những hệ phái Bắc Thiếu Lâm và Nam Thiếu Lâm. Do vậy nói Bồ Đề Đạt Ma là sáng tổ ra võ Thiếu Lâm và võ thuật Trung Hoa như nhiều võ sư xác tín liệu có chính xác và công bằng không trong khi võ Thiếu Lâm là một sự pha trộn và tích hợp giữa các bộ môn quyền thuật dân gian ở Trung Hoa và Ấn Độ. Chùa Thiếu Lâm và võ Thiếu Lâm thật ra chỉ có công tích hợp và hệ thống lại bởi các môn đồ xuất sắc của Thiếu Lâm Tự.

Các bộ môn quyền thuật của miền bắc Trung Hoa như Hình Ý Quyền, Bát Cực Quyền, Thông Bối Quyền, Mê Tung Quyền, Phách Quải Quyền, … đều có một tên chung là Trường Quyền. Các bộ môn quyền thuật của Nam Thiếu Lâm như Ngũ Đại Danh Gia Quyền Thuật Nam Thiếu Lâm : Hồng gia (Hung gar), Lưu gia (Liu Gar), Lý Gia (Li Gar), Mạc Gia (Mo Gar) và Thái Gia (Choy Gar), Bạch Mi Quyền (còn gọi là Thiếu Lâm Bạch Mi), Thiếu Lâm Vịnh Xuân Quyền gọi tắt là Vịnh Xuân Quyền … được gọi tất cả bằng một tên chung là Nam Quyền.

Do vậy cũng nên lưu ý rằng danh từ Trường Quyền không phải là một môn phái mà là khái niệm chỉ tất cả các bộ môn quyền thuật miền bắc Trung Hoa (sau này gọi là Bắc Thiếu Lâm), cũng như danh từ Nam Quyền không phải là một môn phái mà là khái niệm chỉ tất cả các bộ môn quyền thuật miền nam Trung Hoa (là Nam Thiếu Lâm.

Sau này người Trung Hoa thường có câu Thiê

n Hạ Công Phu Xuất Thiếu Lâm (tất cả các phái võ và các bộ môn quyền thuật nam bắc Trung Hoa đều có nguồn gốc từ Thiếu Lâm).

Câu nói này chỉ đúng một nửa và cũng cho thấy rằng võ Thiếu Lâm không phải là cái nôi xuất xứ tất cả các phái võ khác mà phải nói ngược lại rằng nó (võ Thiếu Lâm) đã tích hợp các dòng võ khác và làm cho chính nó trở nên phong phú hơn và đa phong cách thể hiện. Võ Thiếu Lâm và võ thuật Trung Hoa nói chung là một công trình sáng tác của các thế hệ võ thuật ở Trung Hoa, trong đó có các môn đồ của chùa Thiếu Lâm. Bằng không câu nói trên sẽ dẫn đến vô số điều ngộ nhận hơn nữa về sau.

Triều Tiên

· Happkido (Kyuc-too-ki) môn võ tổng hợp, khai thác những ưu điểm của Taekwondo, Karatedo, Kendo, Aikido, Boxing thành một dạng võ tự vệ.

· Taekwondo (Đài quyền đạo hay Túc quyền đạo) môn phái đặc trưng với sự nhấn mạnh đòn chân và tính chất thể thao của bộ môn.

· Tangsudo (Đường thủ đạo)

Việt Nam

Bên cạnh những nét tương đồng với nền võ thuật rộng lớn của Trung Hoa do ảnh hưởng từ giao lưu văn hóa, các phái võ Việt Nam, hay còn được gọi với tên “Võ Thuật Cổ Truyền” vẫn thể hiện những đặc điểm khác biệt rõ rệt với các nền võ học khác trên thế giới nói chung và Trung Hoa nói riêng: thứ nhất, sự xuất hiện của lời thiệu bằng thơ, phú; thứ hai: bộ pháp vận hành theo đồ hình bát quái (lưỡng túc bát quái vi căn), khi đứng thì vững như đá tảng, khi di chuyển thì nhẹ nhàng linh hoạt như lá bay; thứ ba, bộ tay áp dụng theo ngũ hành pháp (song thủ ngũ hành vi bản); thứ tư, kỹ thuật đòn thế được chọn lọc, phân thế riêng phù hợp với cách đánh của từng dạng đối tượng, địa hình, nhất là lối đánh cận chiến một người chống lại nhiều người; thứ năm, tận dụng triệt để lối đánh “cộng lực” – dựa vào sức lực đối phương để triệt hạt đối phương v.v. Danh sách chưa đầy đủ các phái võ Việt Nam ( ở trong và ở ngoài nước Việt Nam) bao gồm:

· Bạch Hổ võ phái

· Bạch Long Chiến Đạo

· Võ Thuật

· Bình Định gia

· Việt Võ Đạo

· Nhất Nam

· Lam Sơn căn bản

· Lâm Sơn Động

· Phật gia quyền

· Sa Long Cương

· Không Động

· Long Hổ Không Hồng

· Hoa Quyền

· Lam Sơn võ đạo

· Nam Hồng Sơn

· Nam Huỳnh Đạo

· Nam Tông

· Vĩnh Xuân Quyền (Việt Nam)

· Phạm Gia võ pháiQuán khí đạo

· Thăng Long võ đạo

· Thiên Môn Đạo

· Tân Khánh Bà Trà

· Thất Sơn Thần Quyền

· Thiếu Sơn Phật Gia

· Thiếu Lâm Long Phi

· Thiếu Lâm Bắc Truyền Thiên Mục Sơn

· Thiếu Lâm Nội Gia Quyền

· Thiếu Lâm Bắc Phái Mai Hãn

· Tây Sơn Quyền

Theo maxreading.com

Thông tin cần biết về Bạch Mi Phái

Thông tin cần biết về Bạch Mi Phái

Chí Thiện thiền sư cũng có một đồ đệ tên Hồng Hy Quan trốn chạy khỏi Nam Thiếu Lâm Phúc Kiến, là người sau này đã truyền bá võ thuật Nam Thiếu Lâm tại quê hương của ông cũng là Phật Sơn tỉnh Quảng Đông, và để tránh sự truy nã của nhà Thanh nên xưng danh Hồng Gia quyền.

Thông tin cần biết về Bạch Mi Phái

Thông tin cần biết về Bạch Mi Phái

Bạch Mi quyền, tên đầy đủ là Thiếu Lâm Bạch Mi quyền là tên của một võ phái miền nam Trung Hoa có nguồn gốc từ Nam Thiếu Lâm Phúc Kiến do Bạch Mi đạo nhân, tương truyền là một đệ tử của Nam Thiếu Lâm tách ra sáng lập riêng sau khi ông ta rời bỏ Phật gia đi theo Đạo gia vào đầu thời Càn Long.

Trong lịch sử võ thuật Trung Hoa có nhiều người lầm lẫn võ phái Nga Mi và Bạch Mi là một. Thật ra đây là hai võ phái khác nhau và có những hệ thống kỹ pháp khác nhau thậm chí không có liên quan gì về mặt lịch sử ngoại trừ chuyện hai vị sư tổ sáng lập đều là đệ tử của Thiếu Lâm.

Truyền thuyết về Bạch Mi Đạo Nhân

Bạch Mi đạo nhân, người đã sáng tạo ra quyền thuật Bạch Mi phái, một dòng võ nổi tiếng trong hệ Nam quyền của Nam Thiếu Lâm.

Trong giới võ thuật ở miền Nam Trung Hoa thường truyền tụng rằng Bạch Mi Đạo Nhân được xem như là một kẻ ‘’Phản đồ” của Nam Thiếu Lâm và là người chủ mưu hoặc ít nhất là có tham gia hai lần vào vụ hỏa thiêu chùa Nam Thiếu Lâm Toàn Châu Phúc Kiến lần thứ nhất vào năm 1723 (tức năm Ung Chính thứ 2) do vua Ung Chính và vụ hỏa thiêu chùa Nam Thiếu Lâm Toàn Châu Phúc Kiến lần thứ hai vào năm 1763 (tức năm Càn Long thứ 28) do vua Càn Long. Câu chuyện này không có một nguồn tài liệu cơ sở lịch sử nào và các học giả nghiên cứu lịch sử võ thuật Trung Hoa cũng không hề ghi nhận sự kiện trên trong các ấn phẩm võ thuật.

Bạch Mi đạo nhân sư tổ

Trong các tài liệu của các đại võ sư Karate ở Nhật Bản luôn nhắc chuyện chùa Nam Thiếu Lâm bị quan quân nhà Thanh đốt phá và 5 vị cao đồ xuất sắc của Nam Thiếu Lâm sống sót và trốn chạy khỏi Phúc Kiến là: Chí Thiện thiền sư, Bạch Mi đạo nhân, Ngũ Mai lão ni sư thái, Phùng Đạo Đức, và Miêu Hiển. 5 người này sau này được xem là Ngũ tổ của các dòng phái võ thuật miền Nam Trung Hoa tục xưng là Nam quyền.

Sau này Ngũ Mai lão ni sư thái thu nhận một nữ môn đồ tên là Nghiêm Vịnh Xuân là con gái của Nghiêm Nhị – cũng là một danh thủ quyền thuật xuất thân từ chùa Nam Thiếu Lâm, đó là nguồn gốc của Vịnh Xuân quyền tại Phật Sơn tỉnh Quảng Đông sau này.

Ngũ Mai sư thái quan sát cuộc chiến thư hùng giữa cáo và hạc sau đó sáng tác ra Vịnh Xuân quyền

Chí Thiện thiền sư cũng có một đồ đệ tên Hồng Hy Quan trốn chạy khỏi Nam Thiếu Lâm Phúc Kiến, là người sau này đã truyền bá võ thuật Nam Thiếu Lâm tại quê hương của ông cũng là Phật Sơn tỉnh Quảng Đông, và để tránh sự truy nã của nhà Thanh nên xưng danh Hồng Gia quyền.

Ngoài Hồng Hy Quan, các môn đồ Nam Thiếu Lâm cũng lưu lạc rải rác khắp miền Nam Trung Hoa hình thành nên nhiều võ phái miền nam sau này, nổi lên hàng đầu là 5 nhà gọi là Ngũ Đại Danh Gia Quyền Thuật Nam Thiếu Lâm Phúc Kiến gồm Hồng, Lưu, Lý, Mạc, Thái.

Miêu Hiển có một người con gái tên Miêu Thúy Hoa, là mẹ của Phương Thế Ngọc sau này cũng nổi danh trong Hồng Gia quyền của Hồng Hy Quan.

Riêng Phùng Đạo Đức sau này cũng đứng riêng tạo lập ra một phái Nam quyền cũng rất nổi tiếng ở miền Nam Trung Hoa là Bạch Hổ phái phát triển rất mạnh ở Quảng Đông và Quảng Tây (Trung Quốc) gọi là Bạch Hổ phái Lưỡng Quảng.

Có hai nguồn tài liệu của các võ sư Karate Nhật Bản đề cập đến chùa Nam Thiếu Lâm Phúc Kiến:

1. Tài liệu của các võ sư Karate ở Okinawa nói rằng chùa Nam Thiếu Lâm được xây vào đầu thời nhà Nam Tống do chùa Thiếu Lâm Tung Sơn ở Hà Nam bị quan quân của triều nhà Nguyên (Mông Cổ) phóng hỏa đốt. Sau đó, vua quan triều nhà Nam Tống do dời đô về Nam Kinh nên muốn xây lại chùa Thiếu Lâm ở Phúc Kiến y hệt chùa Thiếu Lâm ở Hà Nam. Trên thực tế chùa Thiếu Lâm Tung Sơn Hà Nam chỉ có bị phóng hỏa một lần duy nhất bởi quân đội của thuộc hạ của Tưởng Giới Thạch dưới thời Trung Hoa Dân Quốc mà thôi.

2. Tài liệu của các võ sư Karate ở Nhật Bản thì cho rằng chùa Thiếu Lâm Tung Sơn ở Hà Nam bị quân đội nhà Thanh đốt khi tiến vào Trung nguyên nên sau này Chí Thiện Thiền Sư phải xây chùa Thiếu Lâm thứ hai tại tỉnh Phúc Kiến.

Cả hai thuyết trên của các võ sư Karate đều không chính xác và không có cơ sở lịch sử. Trên thực tế chỉ có chùa Nam Thiếu Lâm ở Phúc Kiến là bị nhà Thanh tấn công nhiều lần rồi phóng hỏa thiêu hủy.

Đến năm 1992, dưới sự chỉ đạo của giới lãnh đạo chính quyền thành phố Phúc Kiến và đông đảo các thành phần báo giới cùng quần chúng tham gia, chùa Nam Thiếu Lâm ở Phúc Kiến đã được xây dựng lại theo nguyên bản cách đây hơn 400 năm rất đẹp để làm di tích lịch sử văn hóa thu hút du khách nước ngoài. Hiện nay ở Trung Quốc chỉ còn hai ngôi chùa Thiếu Lâm, một chùa Thiếu Lâm nguyên thủy ở Tung Sơn Hà Nam, tuy bị đốt vào năm 1928 (tức năm Trung Hoa Dân Quốc thứ 17) bởi thuộc hạ của Tưởng Giới Thạch tên là Thạch Hữu Tam truy sát viên tướng tạo phản Phàn Chung Tú đang lẩn trốn trong Tung Sơn Thiếu Lâm Tự, nhưng vẫn còn to lớn uy nghi cho đến nay, và chùa Nam Thiếu Lâm ở thành phố Phủ Điền (hay Bồ Điền) giữa thành phố Phúc Châu và thành phố Toàn Châu thuộc tỉnh Phúc Kiến vừa được xây dựng và trùng tu lại sau năm 1992 đến tháng 9 năm 2001 mới hoàn thành.

Nguồn gốc Bạch Mi phái

Trong các dòng phái Bạch Mi quyền sau này đều có chung điểm thống nhất về nguồn gốc của Bạch Mi phái và Bạch Mi sư tổ, không ai rõ họ tên của ngài ra sao, người ta chỉ biết rằng đó là một vị chân nhân có đôi lông mày dài màu trắng nên được gọi là Bạch Mi Đạo Nhân và ẩn cư tại núi Nga Mi tỉnh Tứ Xuyên.

Bạch Mi Đạo Nhân thật ra là một môn đồ của Thiếu Lâm Tung Sơn Hà Nam.

Tuy nhiên, nếu để ý quan sát ta sẽ thấy Hồng Gia quyền, Bạch Mi quyền, và Vịnh Xuân quyền đúng là có nguồn gốc từ Nam Thiếu Lâm Phúc Kiến vì 3 hệ quyền này đều có những thủ pháp như Tầm kiều, Tiêu chỉ, Tiêu quán chưởng, Trầm kiều, Triệt kiều, Toản kiều, Phiên kiều, Cổn kiều, Lẫy kiều, Tỏa kiều, … là những chiêu thức thủ pháp trong hệ thống Kiều thủ (Kiều pháp) dù rằng Bạch Mi Đạo Nhân gốc là môn đồ Thiếu Lâm Tung Sơn Hà Nam và Bạch Mi Đạo Nhân đã chịu ảnh hưởng của các dòng võ miền Nam của Nam Thiếu Lâm rất rõ.

Bạch Mi Đạo Nhân đã sáng tác ra Bạch Mi quyền trên cơ sở Hổ hình quyền và Báo hình quyền trong hệ thống Ngũ hình quyền (Long, Xà, Hổ, Báo, Hạc) của Thiếu Lâm quyền, chỉ khác là không đi theo kỹ pháp truyền thống quyền xuất tại yêu (hai tay quyền khởi phát từ eo bộ).

Theo tài liệu Bạch Mi phái một số phân lưu thuộc dòng của Tăng Huệ Bác thì Bạch Mi Đạo Nhân tên thật là Chu Long Tuyền, là một đạo sĩ Đạo gia sống trong núi Nga Mi tỉnh Tứ Xuyên, do ông có đôi lông mày màu trắng bạc nên lấy pháp danh là Bạch Mi Đạo Nhân.

Sau này, có lẽ do Bạch Mi Đạo Nhân có mối liên hệ với Ngũ Mai và Chí Thiện, xem các chiêu thức thủ pháp trong hệ thống Kiều pháp là biết, nên Bạch Mi phái được các sử gia võ thuật Trung Hoa xếp vào danh sách Nam quyền thuộc hệ Nam Thiếu Lâm. Thêm vào đó, kỹ pháp của Bạch Mi quyền có nguyên lý phù trầm thôn thổ là đặc thù các môn võ Nam Thiếu Lâm Phúc Kiến sau này nên có lẽ do vậy mà các sử gia võ thuật Trung Hoa xem Bạch Mi phái thuộc dòng võ miền Nam Trung Hoa.

Tương truyền rằng Bạch Mi đã bắt đầu truyền thụ môn quyền pháp do chính mình sáng tạo ra tại núi Thiếu Thất trong dãy Tung Sơn, trong Bạch Mi phái thường gọi là Sùng Sơn Thất, phiên âm Latin danh từ núi Tung Sơn là Songshan hay Sungshan.

Sau khi bắt đầu truyền thụ giáo pháp Bạch Mi tại Sùng Sơn (Tung Sơn), ông đã có lần gặp Ngũ Mai và Chí Thiện rồi sau đó cùng một vài môn đồ đi vào núi Nga Mi ẩn cư và không ai biết sống chết sau này ra sao.

Người học trò đầu tiên của Bạch Mi Đạo Nhân là Quảng Huệ Thiền đi theo ông vào Tứ Xuyên. Sau đó Đại sư Quảng Huệ đã truyền lại cho Thiền sư Trúc Pháp Vân. Đại sư Trúc Pháp Vân sau này truyền lại cho Trương Lễ Tuyền là một người rất nổi tiếng ở Quảng Đông về môn Long hình quyền của Thiếu Lâm quyền và Khách gia quyền (võ của người Hẹ).

Trước kia, Bạch Mi phái chỉ truyền thụ cho người xuất gia hoặc là tăng nhân Phật giáo hoặc là tu sĩ Đạo gia theo lời di huấn của Bạch Mi Đạo Nhân.

Trương Lễ Tuyền, gốc là người Quảng Châu thuộc tỉnh Quảng Đông là môn đồ tục gia đầu tiên của Bạch Mi phái được phép truyền thụ Bạch Mi quyền ra ngoài thế tục.

Trước khi Trương Lễ Tuyền học Bạch Mi quyền, ông đã học một số bộ môn quyền thuật của Khách Gia quyền, là một dòng quyền thuật của người Hẹ – ở Trung Quốc gọi là Người Khách Gia, đây là một môn võ tổng hợp bao gồm Nam Đường lang quyền của Châu Á Nam (Chow Ah Namm – người Hẹ) sáng tạo, Long hình quyền của Thiếu Lâm, Nam Thiếu Lâm Phúc Kiến, Vịnh Xuân quyền, Bạch Mi quyền và một số môn võ miền Bắc Trung Hoa.

Nhờ sự giới thiệu và dẫn dắt của Liên Sinh nguyên là học trò của Đại Sư Trúc Pháp Vân và cũng là một tăng nhân Phật giáo, Trương Lễ Tuyền đã được diện kiến vị Truyền Nhân đời thứ ba này của Bạch Mi phái. Sau một trận giao đấu căng thẳng và bị Đại Sư Trúc Pháp Vân khống chế thân thủ, Trương Lễ Tuyền đã xin theo Đại Sư và bị từ chối. Đại Sư Trúc Pháp Vân sau đó đã trách Liên Sinh tại sao lại nói cho người ngoài biết Liên Sinh đã học Bạch Mi quyền của Đại Sư. Phải mất hơn 6 tháng trời miệt mài kiên nhẫn đi theo Đại Sư Trúc Pháp Vân, Trương Lễ Tuyền mới được nhận làm môn đồ và là Truyền Nhân đời thứ tư của Bạch Mi phái kế tục Đại Sư Trúc Pháp Vân.

Năm 1949 Trương Lễ Tuyền đã rời Quảng Châu đi Hồng Kông và truyền thụ kỹ pháp Bạch Mi phái tại đây. Trong số học trò của Trương Lễ Tuyền tại Hồng Kông, Tăng Huệ Bác, còn gọi là Tăng Khai Minh là người học trò đầu tiên của ông truyền bá Bạch Mi phái sang Việt Nam tại vùng Chợ Lớn, quận 5, Sài gòn, là nơi cộng đồng người Hoa gốc Quảng Đông cư trú rất nhiều.

Trong thời gian cư ngụ tại Quảng Đông, ngoài thời gian nghiên cứu võ thuật, Trương Lễ Tuyền đã bỏ thời gian rất lớn chuyên tâm nghiên cứu về thiền, Đông Y học cổ truyền Trung Quốc, và cả Thuật bói toán cổ truyền Trung Hoa.

Tại Quảng Đông, Trương Lễ Tuyền đã làm giới võ thuật miền Nam Trung Hoa tôn vinh ông là một trong những quyền sư giỏi nhất về thuật tán đả (Santa) còn gọi là phép tán thủ (Sanshou) trong Wushu hiện đại của Trung Quốc mà ngày nay được gọi là thực hành song đấu tự do hay đối kháng. Công chúng Trung Hoa đã xem ông là người đã cho giới võ thuật miền Nam Trung Hoa mục kích những gì được cho là ảo diệu nhất của Bạch Mi quyền.

Các môn đồ của Bạch Mi phái thường có bài thơ lưu truyền ca ngợi công đức và chính khí của Bạch Mi Đạo Nhân nêu gương cho đời sau khi học tập võ nghệ:

Học hảo công phu năng thủ kỹ

Anh hùng bán điểm bất khi nhân

Bạch Mi truyền thụ chân diệu thủ

Sùng Sơn Thất nội khai kỳ công

Tạm dịch nghĩa:

Học công phu võ nghệ phải lo luyện tập trau dồi thường xuyên

Người anh hùng thật sự không khinh người bằng nửa con mắt vậy

Bạch Mi sư tổ nay truyền thụ chân tông quyền pháp ảo diệu rồi

Tại Sùng Sơn Thất các môn đồ cũng đã được thầy khai tâm huyền công đại pháp đó

Đặc trưng kỹ pháp

Truyền thống của Thiếu Lâm quyền là “quyền xuất tại yêu” nghĩa là hai tay quyền luôn phải khởi phát tại eo bộ tức là ở hai bên hông ngang thắt lưng. Nhưng Bạch Mi đạo nhân đã sáng tạo ra một môn quyền thuật mới không đi theo truyền thống Thiếu Lâm quyền với những đặc điểm:

· Đặc điểm thứ nhất là Bạch Mi quyền hai tay quyền sử dụng Phụng nhãn quyền, nghĩa là hay tay cũng nắm thành quyền và cho ngón tay trỏ lồi ra như mắt phụng tấn công điểm vào các huyệt đạo trên mặt và ở ngực, lưng và không bao giờ đặt ở hai bên hông mà luôn song song ở phía trước ngực trông như hai trụ cột cửa cổng lớn được dựng lên sừng sững với kỹ thuật Đoản Kiều (phát kình dũng mãnh trong tầm rất ngắn) như đang sẵn sàng nã đại pháo về phía trước trong các chiêu thức thủ pháp (đòn tay) rất nổi tiếng trong dòng Nam quyền Thiếu Lâm. Quyền pháp của Bạch Mi Quyền là kỳ lạ nhất trong tất cả các phái võ cổ truyền Nam Bắc Trung Hoa ở chỗ: Bạch Mi Quyền có đấu pháp hầu như không bao giờ có thoái bộ tức là lùi lại phía sau.

· Đặc điểm thứ hai trong quyền pháp của Bạch Mi Quyền là “không bao giờ thọc cùi chỏ ra phía sau” thậm chí không đặt tay ở hai bên hông vì như thế cùi chỏ sẽ thụt lòi ra phía sau lưng. Do vậy không bao giờ Bạch Mi Quyền có kỹ thuật đánh cùi chỏ giật ra phía sau lưng mà thông thường muốn đánh về phía sau thì một là quay người lại, hai là phang cả cánh tay quyền về phía sau giống như kỹ thuật Trường kiều của Hồng Gia quyền quăng cả cánh tay về phía đối phương khi phóng quyền.

· Đặc điểm thứ ba là tấn pháp cũng không theo các thế tấn truyền thống của Thiếu Lâm quyền mà dùng thế tấn nổi tiếng Tam giác bộ (âm chữ Hán đọc là Sám Cọt Mã ), một thế tấn nửa Trung Bình Tấn và nửa Đinh Tấn, nghĩa là Đinh Tấn nhưng chân sau không duỗi thẳng mà cong lại như Trung Bình Tấn trong khi thân pháp xoay về một phía tả hay hữu. Bộ tấn được gọi là Tam giác bộ là vì tư thế đứng thường xoay thân người sang một phía tả hoặc hữu và hai bàn chân luôn đứng ở vị trí hai góc đối diện chéo của hình vuông, nghĩa là hai bàn chân đồng thời cũng nằm trên đường phân giác (đường chéo của góc vuông) chia mỗi góc vuông thành 45 độ đồng thời chia hình vuông thành một hình tam giác vuông đều nhau có hai góc nhọn với 45 độ mỗi góc. Tư thế tấn này có thuận lợi trong giao đấu là có thể lách người tiến lên phản công trong khi hai chân di chuyển trên đường zích zắc như đường đi của con rắn đang bò tiến về phía trước. Cách di chuyển này là một nét đặc trưng có ở tất cả các bộ môn quyền thuật và các võ phái có nguồn gốc từ Nam Thiếu Lâm và thường không xuất hiện trong các bộ môn quyền của Bắc Thiếu Lâm và Thiếu Lâm Tung Sơn Hà Nam.

· Đặc điểm thứ tư là nguyên lý “Phù trầm thôn thổ ” rất đặc biệt trong Bạch Mi quyền là thân pháp khi di chuyển và xuất thủ (ra đòn) luôn phối hợp nhau và theo nhau tiến triển khi cao khi thấp kết hợp cùng lúc khi tiến khi lui rất dễ nhận ra vì không có môn quyền nào có được đặc điểm quái dị này. Nếu vắng nguyên lý này, quyền pháp của Bạch Mi Quyền trông không khác gì các môn quyền truyền thống khác.

Nguyên lý “Phù trầm thôn thổ ” này là một đặc điểm của các phái võ Nam Thiếu Lâm Phúc Kiến sau này như Vịnh Xuân quyền, Nam Đường Lang quyền của Châu Á Nam (là người Hẹ, Người Khách Gia), Khách Gia quyền của Người Khách Gia và trong một số phái võ miền Bắc Trung Hoa như Tâm ý bả – còn gọi là Hình Ý quyền, Nga Mi phái, Mai Hoa Đường lang quyền của Bắc Thiếu Lâm, và cả Thái cực quyền Trần gia Lão giá. Tuy nhiên, chỉ có Bạch Mi quyền là thể hiện rõ ràng nhất nguyên lý này và phát triển đặc điểm kỹ pháp này lên đỉnh điểm trở thành đặc trưng khu biệt của riêng Bạch Mi phái do Bạch Mi quyền không đi theo kỹ pháp truyền thống quyền xuất tại yêu của Thiếu Lâm quyền.

Nguyên lý này được sử dụng chủ yếu trong cách đánh cận chiến vì phát kình lực trong tầm ngắn và không được lấy đà, do vậy đòi hỏi kết hợp tối đa sự tổng hợp của vai (trầm) – ngực (thóp cong lại) và cột sống lưng (căng) cùng chuyển động cộng dồn lực của eo, hông, mông, đùi, và gót chân để phóng kình trên các chiêu thức thủ pháp (cùi chỏ bung thẳng cánh và tự co giật lại dưới tác động của qui luật lực đàn hồi theo nguyên lý phi khúc phi trực, nghĩa là không thẳng không cong trong Thiếu Lâm quyền). Cách phát kình này được gọi là Đoản Kiều ngược lại cách phát kình Trường Kiều của Hồng Gia quyền của Hồng Hy Quan.

Ngoài Bạch Mi Quyền ra có thể nói Võ Đang Phái cũng không đi theo truyền thống của Thiếu Lâm quyền mà vòng hai tay trước ngực ôm vòng Thái cực với một tay sấp một tay ngữa khi khởi thức (bắt đầu) bài quyền, nhưng vào giữa bài thì thỉnh thoảng đặt một tay ở ngang hông thắt lưng như Thiếu Lâm quyền. Còn như tất cả các võ phái khác khắp miền Nam Bắc Trung Hoa đều đi theo truyền thống kỹ pháp Thiếu Lâm quyền nên chẳng trách nào người Trung Hoa có câu Thiên Hạ Công Phu Xuất Thiếu Lâm là phải (nghĩa là tất cả các phái võ trong thiên hạ ở Trung Hoa đều khởi thủy từ chùa Thiếu Lâm).

Nga Mi phái là một lưu phái của Bắc Thiếu Lâm nổi tiếng quyền pháp đa dạng do tích hợp đủ loại tông phái quyền pháp của Nam Thiếu Lâm rồi đến Bắc Thiếu Lâm và Võ Đang Phái, thế mà duy chỉ vắng bóng kỹ pháp của Bạch Mi Quyền. Thậm chí sau này trong hệ thống Nam Quyền của Wushu cũng vắng bóng kỹ pháp của Bạch Mi Quyền, xem thế đủ biết kỹ pháp của Bạch Mi Quyền thật là lạ lùng không thể tích hợp được với bất kỳ phái võ nào vì nó không đi theo những kỹ pháp truyền thống của Thiếu Lâm quyền như tất cả các võ phái trong các bộ môn quyền thuật Nam Bắc Trung Hoa.

Những ảnh hưởng của kỹ pháp truyền thống của Thiếu Lâm quyền có thể nói đã lấn át và ảnh hưởng mạnh đến tất cả các võ phái tại châu Á nói chung sau này. Điều đó có thể thấy rất rõ và không thể nào chối cãi được vì trong các bài quyền của các võ phái luôn có dấu ấn của Thiếu Lâm quyền: hai tay thường hay nằm tại hai bên hông ngang thắt lưng. Đó là chưa nói đến cách chào và bái tổ vào đầu bài quyền và kết thúc bài quyền.

Trong kỹ pháp của Bạch Mi quyền chỉ có cách chào (bái tổ) là không thể không bị ảnh hưởng của Thiếu Lâm quyền như các phái võ Nam Bắc Trung Hoa và trong khu vực châu Á khác là: một tay nắm thành quyền còn một tay thì xoè ra biểu tượng cho âm dương, chỉ khác là cách chào của Bạch Mi quyền cho tay phải xòe thành chưởng đặt trên tay trái nắm thành Phụng Nhãn quyền (Phụng Nhãn chùy).

Quyền lộ.

Các bài quyền của Bạch Mi quyền bao gồm các bài sau:

1.Thạch Sư Ông 石狮公 : tiếng Quảng Đông phát âm là Sehk Sī Gūng (Sek Sí Keung), còn gọi là Thạch Sư Quyền (Sehk Sī Kỳuhn 石狮拳 ) là bài quyền cao nhất của hệ thống quyền pháp.

2.Đại Tam Vấn 大三问: tiếng Quảng Đông phát âm là Daaih Sāam Mahn có nghĩa là ba câu hỏi lớn.

3.Cửu Bộ Thối 九步推 : tiếng Quảng Đông phát âm là Gáu Bouh Tēui (Gau Bo Toi), có nghĩa là chín bước chân.

4.Thập Bát Ma Kiều十八摩桥 : tiếng Quảng Đông phát âm là Sahp Baat Mō Kìuh (Sup Bat Mor Kiu).

5.Tam Công 三公: tiếng Quảng Đông phát âm là Sāam Gūng (Sam Keung).

6.Tứ Mã Liên Hoàn 四馬連環 : tiếng Quảng Đông phát âm là Sei Máh Lìhn Wàahn.

Về binh khí của Bạch Mi quyền thì có lưu phái có, có lưu phái không có, binh khí chủ yếu là côn pháp là chính.

Phả hệ Bạch Mi phái

· Bái Méi Dào Rén (White Eyebrow Taoist): Bạch Mi Đạo nhân ( 白 眉 道 人 )

· Kwong Wei (Gwong Wai): Quảng Huệ Thiền sư ( 廣 慧 禪 師 )

· Chook Fat Wan (Chuk Fat Wan): Trúc Pháp Vân Thiền sư ( 竺 法 雲 禪 師 )

· Lin Sang ( 蓮 生 ): Lương Sinh, người giới thiệu Trương Lễ Truyền với *Trúc Pháp Vân Thiền Sư để học nghệ

· Cheung Lai Chuen (1860 – 1964): Trương Lễ Tuyền ( 張 禮 泉)

· Futshan Bak Mei Quan (佛 山 白 眉 拳): Phật Sơn Bạch Mi quyền

· Guangzhou Pak Mei Pai ( 廣 州白眉派): Quảng Châu Bạch Mi phái

Bạch Mi phái tại Việt Nam

Theo tài liệu Bạch Mi phái của các phân lưu Bạch Mi phái Sài gòn Chợ Lớn, năm 1955 Tăng Huệ Bác đã sang Việt Nam cư ngụ tại tại vùng Chợ Lớn, quận 5, Sài gòn.

Trong số môn đồ của Tăng Huệ Bác tại Chợ Lớn (Sài gòn, Việt Nam) có Diệp Quốc Lương, còn gọi là Tài Chúc Cam, vốn là môn đồ Thái cực Đường Lang cũng theo học kỹ pháp Bạch Mi phái. Tài Chúc Cam (Diệp Quốc Lương) là một trong những quyền sư đầu tiên của Bạch Mi phái truyền thụ kỹ pháp Bạch Mi quyền cho người Việt Nam.

Diệp Quốc Lương có người con trai là Diệp Đệ Vân, là quyền sư Thái cực Đường Lang rất nổi tiếng tại vùng Chợ Lớn, quận 5, Sài gòn. Diệp Đệ Vân có rất nhiều môn đồ là người Việt Nam tại Sài gòn.

Dòng Bạch Mi phái của Tăng Huệ Bác chỉ lưu truyền có 9 bài quyền (sáo lộ – tiếng Hoa đọc là Taolu trong bộ môn Wushu hiện đại) và không có dạy binh khí.

Ngoài dòng Bạch Mi phái của Tăng Huệ Bác tại Sài gòn, còn có dòng Bạch Mi phái của Lai Quý Đình và Huỳnh Thiệu Long lưu truyền đến hơn 20 bộ quyền, các bài trường côn và đoản đao, đại đao.

Trương Lễ Tuyền (1880 – 1964) – học trò của Đại Sư Trúc Pháp Vân, truyền nhân đời thứ tư của Bạch Mi phái, người đã làm cho giới võ thuật ở miền nam Trung Hoa tận mục sở thị (xem tận mắt) sự ảo diệu của Bạch Mi quyền

Theo maxreading.com

Thông tin cần biết về Phật Gia Quyền

Thông tin cần biết về Phật Gia Quyền

Bộ môn này có lan truyền sang các khu vực lân cận như Hồng Kông, Đài Loan và rất thịnh hành tại tỉnh Thanh Hóa miền Bắc Việt Nam trước 1954 và hiện đang lưu truyền phổ biến ở các khu vực Bắc Mỹ, Canada.

Thông tin cần biết về Phật Gia Quyền

Thông tin cần biết về Phật Gia Quyền

Phật gia quyền còn có tên khác là La Hán Phật gia quyền lấy gốc tích xuất xứ võ Thiếu Lâm từ bài quyền đầu tiên La Hán Thập Bát Thủ, là tên của một võ phái của các vị Lạt Ma ở vùng Vân Nam và Tây Tạng là chủ yếu.

Nguồn gốc và danh xưng

Tương truyền rằng võ phái này có nguồn gốc từ Nam Thiếu Lâm và chùa Thiếu Lâm Tung Sơn Hà Nam.

Thuyết khác lại cho rằng gốc phát tích của nó là chung một gốc với Hồng Gia Quyền của Hồng Hy Quan và Vịnh Xuân Quyền của Nghiêm Vịnh Xuân tại thành phố Phật Sơn, tỉnh Quảng Đông.

Nguồn gốc môn phái không rõ ràng và có một vài kỹ thuật kỹ pháp liên quan đến Nam Thiếu Lâm Phúc Kiến ở kỹ thuật trường kiều đại mã và La Hán quyền của Thiếu Lâm Tung Sơn Hà Nam, cước pháp (đòn chân) thì lại có liên quan một ít đến Bắc Thiếu Lâm.

Theo thuyết khác, bộ môn này có nguồn gốc từ một ngôi chùa thuộc các môn đồ của Thiếu Lâm ở tỉnh Quảng Đông do các sư tăng trong chùa rút gọn tinh hoa quyền pháp của các hệ Nam quyền Quảng Đông mà chủ yếu là Hồng Gia Quyền của Nam Thiếu Lâm nên rất thịnh hành ở vùng lưỡng Quảng (Quảng Đông & Quảng Tây).

Bộ môn này có lan truyền sang các khu vực lân cận như Hồng Kông, Đài Loan và rất thịnh hành tại tỉnh Thanh Hóa miền Bắc Việt Nam trước 1954 và hiện đang lưu truyền phổ biến ở các khu vực Bắc Mỹ, Canada.

Đặc trưng kỹ pháp

Đây là một môn quyền thuật có nguồn gốc từ các phái võ miền Nam Trung Hoa xuất xứ từ Nam Thiếu Lâm nên thuộc các bộ môn Nam quyền.

Về mặt kỹ pháp, Phật gia quyền sử dụng các loại thủ hình như các hệ phái Nam quyền khác : quyền (đấm), chưởng (xòe bàn tay), trửu (cùi chỏ), chỉ (các ngón tay xỉa), câu thủ (cổ tay), trảo (ức bàn tay và các ngón tay co lại), … cũng có sử dụng đòn chân (cước pháp, thối pháp) của Bắc Thiếu Lâm nhưng lại đá thấp từ thắt lưng trở xuống và ít khi nhảy cao đá như các bộ môn Trường quyền của Bắc Thiếu Lâm.

Quyền pháp của Phật gia quyền tinh tuyển tinh hoa của các loại Nam quyền như Hồng, Lưu, Lý, Mạc, Thái .

Kỹ pháp đặc trưng vẫn là sử dụng Kiều pháp (đòn tay) như Hồng Gia Quyền, vẫn theo nguyên lý “Ổn mã ngạnh kiều, trường kiều đại mã, đoản kiều tiểu mã” nghĩa là “Ngựa vững cầu cứng, ngựa lớn cầu dài, ngựa nhỏ cầu ngắn”, diễn giải: bộ pháp (tấn pháp và cước pháp) vững vàng và thủ pháp (đòn tay) chắc chắn, đánh đòn tay dài thì đứng tấn dài rộng, đánh đòn tay ngắn thì đứng bộ tấn hẹp.

Do xuất phát từ Thiếu Lâm là quyền pháp của Phật gia nên bộ môn quyền này cũng tuân thủ theo các phép đánh nghiêm ngặt và phong tỏa cẩn mật trong-ngoài trên-dưới, động tác chặt chẽ như các bộ môn Thiếu Lâm quyền khác. Phong thái thể hiện cương cường ngoại tráng, bộ hình (bước tấn) di chuyển kín đáo và đầy sức lực hùng hậu. Đó là một bộ môn quyền chủ cương nhiều hơn nhu so với Thiếu Lâm quyền căn bản là cương nhu tương tế.

Theo maxreading.com

Thông tin cần biết về Bát cực quyền

Thông tin cần biết về Bát cực quyền

Các bài chủ yếu là: bát cực giá nhỏ, bát cực quyền (còn gọi là bát cực đối tiếp), sáu đầu khuỷu, bát cực giá mới, bát cực cương kình, bát cực hai trục, bát trận quyền v.v.. về khí giới thì có lục hợp đại thương , đâm nhau đại lục hợp là chính.

Thông tin cần biết về Bát cực quyền

Thông tin cần biết về Bát cực quyền

Bát cực quyền là một môn quyền danh tiếng trong các phái võ miền Bắc của Trung Hoa đã có lịch sử phát triển trên 300 năm. Với uy lực sấm sét của những đòn đánh cận chiến thực dụng, Bát cực quyền đã được phát triển từ một số bài quyền ban đầu trở thành một hệ thống luyện tập riêng biệt, độc đáo mà các môn sinh có thể theo học cả đời.

Nguồn gốc và danh xưng

Tên đầy đủ là “Khai môn bát cực quyền”, còn gọi là “Nhạc sơn bát cực quyền”. Gọi tên “Khai môn giả” (người mở cửa) bắt nguồn từ sáu đường mở cửa từ đó làm hạt nhân kỹ pháp, phá bung môn hộ của đối phương (tức giá tử phòng thủ). Gọi Bát Cực là dùng theo hệ cổ đại bảo: “ở ngoài chín châu có tám dần (“bát dần”)” ở ngoài bát dần thì có bát hoằng, ngoài bát hoằng thì có bát cực” Dần là nơi xa nhất của tám phương. Gọi là “Nhạc sơn”, tương truyền ở Hà Nam có chùa Nhạc Sơn là nơi bắt nguồn của Bát Cực quyền nên mới lấy tên là Nhạc Sơn.

Bát cực quyền bắt đầu từ ai, theo ghi chép thì có hai thuyết: một thuyết nói do đạo sĩ họ Lại dạy nghề cho Ngô Chung người thôn Hậu Trang Khoa, huyện Khánh Vân, tỉnh Hà Bắc, còn thuyết kia báo Trương Nhạc Sơn người Hà Nam truyền cho Ngô Chung. Ngô Chung truyền nghệ cho con gái là Ngô Vinh. Về sau nhà họ Ngô di cư đến trấn Mạnh thôn, huyện Thương tỉnh Hà Bắc, do đó Mạnh Thôn dần trở nên nơi truyền bá Bát cực quyền.

Đặc điểm kỹ pháp của Bát cực quyền: giá thức ngắn nhỏ tinh luyện, động tác nhanh mạnh, kình lực khỏe, đổi hất ép dựa, hất lắc đột kích, lấy khí thực lực, lấy tiếng giúp thế, khí thế hiếp người. Ra tay lẹ như tên bắn, bước thọc như đục đá, lên mạnh xuống cứng, đốt(tiết) ngắn, thế hiểm. Khi diễn luyện bắt đầu thì uy mạnh như hổ, bình tĩnh như gấu, mạnh mẽ như ưng, xoay chuyển như rắn.

Các bài chủ yếu là: bát cực giá nhỏ, bát cực quyền (còn gọi là bát cực đối tiếp), sáu đầu khuỷu, bát cực giá mới, bát cực cương kình, bát cực hai trục, bát trận quyền v.v.. về khí giới thì có lục hợp đại thương , đâm nhau đại lục hợp là chính.

Lịch sử Bát Cực Quyền

Xuất xứ Bát cực quyền từ Mạnh Thôn thuộc khu tự trị dân tộc Hồi, cách Thương Châu tỉnh Hà Bắc (Trung Quốc) khoảng 37km về hướng Đông Nam. Đây là một hệ thống quyền được hình thành và phát triển mạnh mẽ trong khoảng những năm 1644 nhà Thanh.

Đặc điểm quyền thuật

Bát cực quyền hấp thu được tinh hoa của Thiếu Lâm phái, Võ Đang phái, Không Động phái v.v. nhấn mạnh đặc tính cương mãnh, chủ về tấn công. Hệ thống này thường áp dụng chiêu thức liên châu pháo trong cận chiến, thế mạnh như dương cung, sấm sét, mạnh bạo, dữ dội và đầy bất ngờ với uy lực phát huy tối đa từ nắm tay, cùi chỏ, đầu gối, đầu. Những công phu trấn sơn tinh hoa của Bát cực quyền bao gồm Bát cực nội công tâm pháp với 64 thế thủ, 24 thức, 8 đỉnh, 12 đề, 108 chiêu biến hóa tấn công, và Lục hợp đại thương mật phổ.

Do tính chất thực dụng, kỹ thuật đơn giản mà hiệu quả, hệ phái võ thuật cổ điển này hiện nay rất phổ biến ở Bắc Trung Quốc và được nhiều giới theo học, nhất là thanh niên. Tuy nhiên do Bát cực quyền rất khó luyện đại thành, đòi hỏi môn đồ thực hành cần cù miệt mài nên ít người đạt trình độ cao.

Danh nhân Bát Cực Quyền

Đời Khang Hy triều Thanh, quyền sư Đinh Phát Tường chuyên luyện Bát cực quyền ở Mạnh Thôn đã thượng đài hạ gục hai đại lực sĩ người Nga tự xưng là vô địch thiên hạ từng hạ thủ nhiều cao đồ Trung Quốc. Đinh Phát Tường sau đó đã được vua Khang Hy ban tặng danh hiệu “thiết tráng sĩ võ hiệp”. Sau Đinh Phát Tường, lần lượt các danh nhân Bát cực quyền được biết đến, khiến môn phái ngày càng lừng danh như Bắc phương thần thương thủ Ngô Chung, Lý Thụ Văn, Đinh Ngọc Lâm, Ngô Tú Phong, Mã Hiển Đạt v.v.

Hiện nay, người kế thừa và phát dương tinh hoa Bát cực quyền Mạnh Thôn là võ sư Đinh Nhuận Hoa, hậu duệ đời thứ 13 của Đinh Phát Tường. Ông hiện là chủ tịch Hiệp hội võ thuật khu tự trị dân tộc Hồi tỉnh Hồ Bắc và là Chủ nhiệm Võ quán Tinh anh Bát cực quyền với hơn 3000 môn đồ. Từ đây, nhiều đệ tử của Nhuận Hoa đã thành danh, như 13 trọng tài võ thuật cấp quốc gia, 35 võ sĩ từng đoạt ngôi vô địch hoặc thứ hạng cao trong các giải Wushu toàn quốc, 125 huấn luyện viên Wushu cao cấp. Đặc biệt võ sĩ Lý Chiếm Hoa, môn đồ của Đinh Nhuận Hoa, đã từng tham gia đoàn Wushu Trung Quốc biểu diễn Bát cực quyền tại Nhật Bản, Ấn Độ, Hàn Quốc, Úc, Indonesia, Singapore và được tán thưởng với những tuyệt kỹ công phu của Bát cực quyền.

Đánh giá

Bát cực quyền được giới võ lâm Trung Quốc đề cao hết mực: “Văn dụng Thái cực an thiên hạ, Vũ hữu Bát cực định càn khôn”, có lẽ xuất xứ từ câu nói của Càn Long hoàng đế đời Thanh: “Đối với nhu phái và trong thời bình, chúng ta có Thái cực quyền, nhưng để chiến đấu và chinh phục, chúng ta có Bát cực quyền”. Trong thực tế Thanh triều, hầu hết các hoàng đế đều học Bát cực quyền và dùng các võ sư của môn phái này làm hộ vệ hoặc làm giáo đầu cho các võ quan cao cấp của mình.

Theo maxreading.com